Người cộng sản kiên trung, nhà lý luận cách mạng sắc sảo
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, lớn lên trên vùng đất địa linh nhân kiệt Hà Tĩnh, Hà Huy Tập sớm bộc lộ tính cương trực, thẳng thắn, sẵn sàng bênh vực những người bị áp bức...
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, lớn lên trên vùng đất địa linh nhân kiệt Hà Tĩnh, Hà Huy Tập sớm bộc lộ tính cương trực, thẳng thắn, sẵn sàng bênh vực những người bị áp bức. Được học hành, bản tính đó càng được bồi đắp và đưa anh dấn thân vào con đường đấu tranh chống lại sự bất công xã hội khi anh là giáo viên ở Nha Trang. Cuối năm 1925, anh gia nhập Hội Phục Việt, một tổ chức chính trị tiến bộ vừa được thành lập ở trong nước. Càng hoạt động thực tiễn, năng lực tổ chức trong anh càng được khẳng định. Anh được điều vào Sài Gòn phát triển lực lượng khi tổ chức này đổi tên thành Đảng Tân Việt.
|
Đồng chí Hà Huy Tập.Ảnh tư liệu |
Cuối năm 1928, khi mật thám Pháp vây ráp và lùng bắt những nhà cách mạng, Tân Việt tìm cách đưa Hà Huy Tập ra nước ngoài tạm lánh. Được sự giúp đỡ của một số nhà cách mạng Việt Nam và Lãnh sự quán Liên Xô tại Đại Liên, Trung Quốc, Hà Huy Tập làm thủ tục sang học tập tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản (QTCS). Anh nhập học với thẻ sinh viên mang tên Xi-nhi-trơ-kin, số 4716, khóa chính quy 3 năm (1929-1932). Những năm anh theo học Trường Đại học Phương Đông cũng là những năm nhà trường trải qua nhiều biến động to lớn trước và sau Đại hội VI của QTCS-Đại hội được đánh giá như là sự chiến thắng bước đầu của khuynh hướng “tả” trong QTCS. Dĩ nhiên, trong tư duy của anh không thể không chịu ảnh hưởng của những biến động tư tưởng đó. Khi còn là sinh viên, Hà Huy Tập được QTCS phát hiện và bồi dưỡng bởi sự thông minh và sắc sảo trong tư duy. Tháng 4-1932, Hội đồng Ban Phương Đông đã mời Hà Huy Tập, người “rất chắc về đường lối, về phương diện chính trị, đồng chí ấy đã được huấn luyện tốt về lý thuyết và có kinh nghiệm công tác quần chúng” tham gia góp ý vào bản Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, một văn kiện quan trọng do QTCS dự thảo nhằm khôi phục phong trào cộng sản Việt Nam sau khi cao trào cách mạng 1930-1931 bị dìm trong bể máu.
Sau khi tốt nghiệp, Hà Huy Tập được QTCS bổ sung cho Lê Hồng Phong đang trên đường về Trung Quốc qua ngã đường Pháp. Đây là ngã đường giao liên bí mật quan trọng nối Mát-xcơ-va, trung tâm cộng sản thế giới với Đảng ta, nhưng đến giữa năm 1932 bị lộ nên thực dân Pháp phong tỏa gắt gao. Trong hoàn cảnh đó, Hà Huy Tập khi tới Pa-ri không thể đi được, đành quay lại Mát-xcơ-va. Trong thời gian chờ đợi đó, anh viết cuốn Essai d’histoire du mouvement communiste en Indochine (Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương). Công trình nghiên cứu đầu tay này của anh hoàn thành vào đầu năm 1933 nhân dịp kỷ niệm 3 năm Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và được công bố dưới bút danh Hồng Thế Công vào tháng 8 cùng năm.
Khi bản thảo công trình được đưa vào nhà in thì tác giả cùng với Nguyễn Văn Dựt theo tuyến giao liên Mát-xcơ-va - Vla-đi-vô-xtốc - Hồng Công - Quảng Châu tìm Lê Hồng Phong. Ngày 1-8-1933, họ gặp Lê Hồng Phong tại Ma Cao, thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài, theo quyết định của Ban Phương Đông QTCS. Trong bối cảnh “bộ máy của Đảng bị phá hủy, liên lạc bị đứt mối, các tổ chức tan tành, những chiến sĩ ưu tú bị bắt cầm tù, chỉ còn lại những người cộng sản hoặc nhóm cộng sản riêng lẻ”, tháng 3-1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm 3 người là Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Dựt. Tổ chức này đã đóng vai trò là người lãnh đạo, người tổ chức lại cơ quan lãnh đạo trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Sau thành công của Hội nghị Ban Chỉ huy ở ngoài và đại diện của các tổ chức đảng trong nước, việc tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã trở nên hiện thực. Tháng 9-1934, đồng chí Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội VII QTCS(*). Do vậy, toàn bộ công tác chuẩn bị cho Đại hội I đều dồn lên vai Hà Huy Tập. Sau thời gian chuẩn bị khẩn trương, Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã được tiến hành tại Ma Cao từ ngày 27 đến 31-3-1935. Đại hội đã bầu BCH mới gồm 13 đồng chí (9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết) do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư và thông qua gần 30 văn kiện. Sự thành công của Đại hội I ĐCS Đông Dương đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách mạng Việt Nam. Cũng phải nói thêm là từ tháng 9-1934 đến giữa năm 1936, Ban Chỉ huy ở ngoài do Hà Huy Tập đứng đầu kiêm thêm chức năng của BCH Trung ương trong nước.
Theo quyết định về nhân sự của Hội nghị BCH Trung ương tháng 7-1936, Lê Hồng Phong, Ủy viên BCH QTCS ở lại Thượng Hải để giữ mối liên lạc với QTCS, còn Hà Huy Tập về nước để tổ chức lại BCH Trung ương. Đầu tháng 8-1936, anh bí mật về Sài Gòn. Sau khi nắm tình hình cách mạng khu vực Sài Gòn và các vùng phụ cận, Hà Huy Tập triệu tập Hội nghị cán bộ tổ chức lại BCH Trung ương mới trong nước và đặt trụ sở tại làng Tân Thới Nhất, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Trên cương vị Tổng Bí thư ĐCS Đông Dương, với năng lực tổ chức tốt và uy tín của mình, đến đầu năm 1937, Hà Huy Tập đã nhanh chóng xác lập được bộ máy Trung ương, thực hiện thống nhất tổ chức Đảng trên cả nước.
Trong những năm làm Tổng Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập đã cùng BCH Trung ương sử dụng nhiều phương pháp, nhiều hình thức đưa cách mạng nước ta phát triển lên một bước mới, được thể hiện rõ nét trong các phong trào, các cuộc vận động mang tính chất quần chúng sâu rộng như các phong trào Đông Dương Đại hội, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ… Trên bình diện lý luận, Hà Huy Tập là cây bút sắc sảo trong những cuộc bút chiến chống mọi biểu hiện tư tưởng sai lầm, bảo vệ sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác, đặc biệt trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống khuynh hướng cực tả của nhóm Tơ-rốt-xki ở Việt Nam. Đặc biệt, Hà Huy Tập với bút danh Thanh Hương cho xuất bản cuốn Trốt-xki và phản cách mạng được sắp xếp thành 4 phần lớn: 1. Lê-nin và Tơ-rốt-xki; 2. Đệ tam và đệ tứ quốc tế; 3. Cách mạng và phản cách mạng; 4. Chủ nghĩa Tơ-rốt-xki ở Đông Dương. Các bài báo và cuốn sách của Hà Huy Tập đã góp phần quan trọng vào cuộc tranh luận công khai nhằm đập tan các luận điệu sai trái của những nhà “cách mạng đầu lưỡi”, bảo vệ sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác, đưa những tư tưởng cách mạng đúng đắn của Đảng đến với quảng đại quần chúng nhân dân. Trong các cuộc bút chiến đó, đồng chí Hà Huy Tập đã thể hiện là một cây bút lý luận sắc sảo, giàu tính chiến đấu và bản lĩnh chính trị cao.
Những hoạt động lý luận và thực tiễn của Hà Huy Tập đã góp phần to lớn tạo nên cao trào cách mạng 1936-1939, góp phần xây dựng đội quân chính trị hùng hậu cho cách mạng, tạo thế và lực mới cho cách mạng nước ta bước sang giai đoạn quyết định, giai đoạn tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc.
|
Lễ truy điệu đồng chí Hà Huy Tập tại TP Hồ Chí Minh |
Trong một lần đi thị sát cuộc đấu tranh của nhân dân nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1-5-1938 tại Sài Gòn, đồng chí Hà Huy Tập bị bắt. Dù bị cực hình và đọa đày trong ngục tù đế quốc, Hà Huy Tập không hề khuất phục, một lòng một dạ bảo vệ Đảng, giữ vững khí tiết của người cộng sản và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Ngày 25-3-1941, tòa án binh của thực dân Pháp ở Sài Gòn kết án tử hình Hà Huy Tập với tội danh “có trách nhiệm tinh thần” về Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 10-1940. Ngày 28-8 cùng năm, chúng đã xử bắn Hà Huy Tập. Anh đi vào cõi vĩnh hằng khi mới 35 tuổi.
Ngày 22-11-2009, hài cốt đồng chí Hà Huy Tập được phát hiện tại khu vực Bến Tắm Ngựa thuộc xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh. Ngày 1-12-2009, lễ viếng và truy điệu đồng chí được tổ chức tại Hội trường Thống Nhất TP Hồ Chí Minh. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hàng trăm đoàn đại biểu đã đến viếng. Đọc điếu văn tại lễ truy điệu, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: “Tinh thần và sự nghiệp hoạt động cách mạng của đồng chí cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập sống mãi cùng với Đảng, Tổ quốc và nhân dân ta”. Sau đó, linh cữu đồng chí Hà Huy Tập được đưa về an táng tại quê nhà huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.





