NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH GIÀ LÊ VĂN CỰU
Ông Lê Văn Cựu, sinh năm 1920, là cựu chiến binh từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, ông đảm nhận công tác hậu cần, âm thầm góp sức vận chuyển lương thực, thuốc men và tiếp tế cho chiến trường. Sau thời gian tập kết ra Bắc, ông gặp bà ngoại tôi và nên duyên giữa những ngày đất nước còn nhiều gian khó. Cả cuộc đời ông là hình ảnh của một người lính kiên trung, giản dị, dành trọn tuổi xuân cho độc lập dân tộc và hòa bình hôm nay

Có những con người không cần huân chương lấp lánh, chỉ cần nhắc tên thôi cũng đủ thấy cả một thời bom đạn hiện về. Ông ngoại tôi – ông Lê Văn Cựu, sinh năm 1920 – là một người như thế.
Tuổi đôi mươi của ông không có những ngày yên bình như lớp trẻ bây giờ. Khi đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, ông đã khoác ba lô lên đường tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Đến khi đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông lại tiếp tục cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc. Hai cuộc chiến kéo dài gần cả đời người, ông đi qua bằng lòng yêu nước và ý chí của một người lính Cụ Hồ.
Ông làm công tác hậu cần – công việc thầm lặng phía sau chiến tuyến. Không trực tiếp cầm súng nơi trận địa, nhưng ông là người góp từng bao gạo, từng viên thuốc, từng chuyến hàng để giữ nhịp sống cho bộ đội nơi tiền tuyến. Trong những năm tháng thiếu thốn, bom đạn cày nát đường đi, người lính hậu cần như ông phải băng rừng, vượt suối, thức trắng đêm để đảm bảo “hậu phương không thiếu một cân, tiền tuyến không thiếu một người”.
Ngày ấy, ông tập kết ra Bắc. Cũng chính nơi đất Bắc nghĩa tình ấy, ông gặp bà ngoại tôi – người phụ nữ đã cùng ông đi qua những năm tháng gian lao nhất của cuộc đời. Tình yêu của họ không bắt đầu bằng hoa hay những lời hẹn ước lãng mạn, mà bắt đầu từ những bữa cơm độn khoai, những lần chờ nhau sau mỗi chuyến công tác, và niềm tin vào ngày đất nước hòa bình.
Người ta thường nói chiến tranh lấy đi tuổi trẻ của một thế hệ. Nhưng với ông tôi, chiến tranh cũng hun đúc nên một đời người kiên trung, giản dị và giàu nghĩa tình. Sau hòa bình, ông trở về với cuộc sống đời thường, mang theo ký ức của một thời hoa lửa mà mỗi lần kể lại, ánh mắt ông vẫn ánh lên niềm tự hào.
Hôm nay, khi nhìn lại cuộc đời ông – một cựu chiến binh đi qua hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc – tôi càng hiểu rằng: có những thế hệ đã sống không phải cho riêng mình, mà sống để đất nước có được hòa bình, để con cháu hôm nay được lớn lên trong những tháng ngày yên bình.



