NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH LÊ VĂN TÂM
Ông Lê Văn Tâm sinh ngày 8/8/1957. Ông sinh ra và lớn lên tại quê hương Đoan Hạ cũ nay thuộc xã Thanh Thuỷ - Tỉnh Phú Thọ. Ông được cha mẹ nuôi lớn trưởng thành, học hết trung học phổ thông năm 1972; đến khi tuổi 18 ông xây dựng gia đình với bà Lê Thị Hoa, nhưng vì lòng yêu nước sục sôi trong ông, ông đã từ biệt người mẹ già và người vợ trẻ với bao lời ước hẹn để lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc vào Ngày 8/3/1975.
Ông Lê Văn Tâm sinh ngày 8/8/1957. Ông sinh ra và lớn lên tại quê hương Đoan Hạ cũ nay thuộc xã Thanh Thuỷ - Tỉnh Phú Thọ.
Ông được cha mẹ nuôi lớn trưởng thành, học hết trung học phổ thông năm 1972; đến khi tuổi 18 ông xây dựng gia đình với bà Lê Thị Hoa, nhưng vì lòng yêu nước sục sôi trong ông, ông đã từ biệt người mẹ già và người vợ trẻ với bao lời ước hẹn để lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc vào Ngày 8/3/1975.
Ông đóng quân tại đơn vị Đại đội 6, trung đoàn 745 thuộc đoàn Mê Linh tỉnh Phú Thọ.. Cuối tháng 3/1975 khi vào đến Quảng Bình đơn vị của ông đã tiến quân thẳng vào Nam theo lệnh thần tốc giải phóng Miền Nam, vào đất Gia lai-KonTum trước ngày 30/4/1975. Trên đường hành quân theo lệnh thần tốc đơn vị của ông đã băng rừng lội suối, vượt đèo Trường Sơn sang Lào. Mặc dù trên đường đi gian nan vất vả nắng mưa có, đau ống bệnh tật có, rét có, đói có, mệt có…nhưng ông cùng đồng đội luôn động viên nhau không quản khó khăn vẫn cố gắng ngày đêm không nghỉ để đến nơi 1 cách nhanh nhất. Ông chia sẻ có những hôm trên đường hành quân bụi đường đất phủ kín khuôn mặt chỉ còn hở 2 con mắt, cơm nắm mang theo không đủ ăn các chiến sĩ phải chia nhau từng miếng cơm cho đỡ đói mệt, chia nhau từng ngụm nước uống, uống cả nước ở những vũng ven đường. Có khi vừa dừng nghỉ chân lấy cơm nắm ra chưa kịp ăn có lệnh là lại tiếp tục hành quân. Tuy mệt nhưng vẫn động viên nhau cùng cố gắng vì Miền Nam ruột thịt thân yêu. Dòng dã hơn 20 ngày đêm băng rừng lội suối thì đến ngày 30/4/1975 đơn vị ông đã vào đến ngã ba Đông Dương, tỉnh Gia Lai khi ấy.
Sau khi Miền Nam được giải phóng kết thúc chiến tranh đơn vị ông được giao nhiệm vụ bảo vệ Phía tây nam của tổ quốc và hỗ trợ bà con làm kinh tế xây dựng đơn vị..
Ông kể: trong thời gian chuyển từ chiến đấu sang làm kinh tế gặp không ít khó khăn. Cả đơn vị đã cùng nhau giúp đỡ bà con dựng lều, lán để ở tạm sau những năm tháng chiến tranh tàn phá. Mảnh đất cằn cỗi nhuốm đầy máu xương của đồng đội đã được bàn tay của người dân và các chiến sĩ đã biến thành mảnh đất màu mỡ.
Trong quá trình làm việc tại đơn vị cho đến năm 1979, ông được bổ nhiệm làm trung đội trưởng đại đội xây dựng. Đến tháng 10/1980 ông được bổ nhiệm làm đại đội phó đại đội xây dựng trung đoàn E704 ĐOÀN 703BĐ15 quân khu 5. Ông là một người chiến sỹ một lòng hướng về tổ quốc, luôn tiên phong đi đầu trong mọi phong trào xây dựng bảo vệ tổ quốc. Được cấp trên tịn tưởng giao nhiều nhiệm vụ khó khăn.
Trong quá trình công tác và làm việc tại Gia Lai-kontum ông được nhà nước trao tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng 2 và huy chương chiến sĩ vẻ vang.
Ông đã có đứa con đầu lòng vào năm 1981, sau 6 năm nhập ngũ khi được trở về thăm gia đình sau bao năm xa cách ông tiếp tục trở vào Nam để công tác.
Đến năm 1983 ông được điều động chuyển về trung đoàn mới trung đoàn E74 thuộc trung đoàn 331 quân khu 5, ông làm trợ lý ban tham mưu của trung đoàn.
Cho đến cuối năm 1985 ông ra quân về quê cùng vợ làm kinh tế và sống cuộc sống đời thường nuôi dạy các con trưởng thành.
Ông sinh được tất cả 5 người con 3 gái 2 trai, và nuôi dạy các con nên người. Các con ông đã xây dựng gia đình và đầy đủ cháu, chắt..
Ông luôn mang trong mình đức tính của người lính cụ hồ sống chan hoà với anh
em, bạn bè làng xóm. Luôn giúp đỡ mọi người xung quanh khi gặp khó khăn và luôn chia sẻ kinh nghiệm làm ăn để làng xóm cùng có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Hiện nay ông đã có 1 trại chăn nuôi gà và 1 trang trại trồng rau, cây ăn quả.
Hàng ngày 2 vợ trồng ông cùng nhau làm việc và những lúc dảnh dỗi thì cùng
nhau ngồi tâm sự, kể lại những khó khăn trong cuộc sống và trong những ngày tháng gian khổ trong chiến tranh. Bà luôn là một người hậu phương vững chắc để ông yên tâm giữ chắc tay súng bảo vệ tổ quốc nơi chiến trường xa xôi. Mặc dù cách nhau hang ngàn cây số nhưng trái tim hai con người luôn hướng về nhau, luôn cùng nhau cố gắng mỗi ngày cho đến khi ông được ra quân.
Quãng thời gian bà sinh con một mình nuôi con, và chăm sóc bố mẹ chồng, tuy vất vả nhưng bà không hề kêu than mà âm thầm gánh vác cho đến ngày ông trở về, gia đình được đoàn tụ.
Mặc dù ông cũng như các chiến sĩ của trung đoàn ông tham gia chiến tranh chỉ thời gian ngắn ngủi khi Miền Nam đang trong những ngày chuẩn bị giải phóng nhưng trong lòng tôi cũng như mỗi người dân Việt Nam luôn biết ơn về sự hy sinh thầm lặng của những người chiến sĩ trong cả thời chiến và thời bình. Mãi là tấm gương sáng cho thế hệ chúng ta và các thế hệ về sau noi theo.



