NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH VIẾT VĂN (1)
Tôi và ông tuy quen biết nhau đã lâu nhưng cũng chỉ quan hệ công tác, tôi ở Văn phòng Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, sau này chuyển sang Trường Chính trị tỉnh, còn ông ở Mặt trận Tổ quốc tỉnh. Bây giờ cả hai đã nghỉ hưu lại cùng có niềm đam mê viết lách nên mới có điều kiện gắn bó thân thiết. Khi thì tôi xuống nhà ông, khi thì ông lên nhà tôi, chúng tôi nói chuyện về bạn bè, đàm đạo về thế sự, về cái nghiệp văn chương.
Lúc hứng lên, ông rủ tôi đến nhà các bác, các anh yêu văn học - nghệ thuật chuyện phiếm. Hợp nhau nên sinh ra lắm chuyện “lôi thôi” dài dòng, nhiều khi khó dứt ra được. Ông là người cẩn thận trong từng nếp nghĩ đến công việc, có lẽ những năm tháng trong quân ngũ (Ông nhập ngũ năm 1970 tại Lào Cai thuộc đơn vị A2, B1, C4, D10, F304B sau đó có chuyển sang D7, E866, rồi C4, D5, E148, F316B) tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam, chiến trường nước bạn Lào và sau này làm công tác Mặt trận đã rèn cho ông đức tính quý đó. Ông viết văn cũng vậy. Sáng tác của ông thể hiện trong nhiều thể loại, nhưng thế mạnh của ông là bút ký và truyện ngắn. Về hưu ông lại càng có điều kiện thực hiện sở trường của mình. Ông đi nhiều, một mình trên chiếc xe máy dong duổi khắp các nẻo đường, cũng có khi đi nhờ xe ô tô của bạn bè hoặc cơ quan nào đó cùng tuyến đường để thu thập tư liệu thực tế, để gặp người, gặp việc. Những chuyến đi đã cho ông những đề tài về cuộc sống muôn màu ở mỗi địa phương đang chuyển mình trong cơ chế đổi mới, để từ đó ra đời những đứa con tinh thần đầy tâm huyết của mình. Đó là những dòng sống động trong bút ký, những câu chuyện nút thắt, nút cởi bất ngờ trong truyện ngắn. Ở thể loại nào cũng đều hướng tới cái chân, thiện, mỹ mà người làm văn nghệ phải luôn hướng tới. Khi nói chuyện về việc viết, ông thường nhắc: Viết gì thì viết nên nhớ chúng mình là cán bộ, đảng viên đã từng cầm súng tham gia giải phóng đất nước, khi trở về lại là cán bộ cơ quan của tỉnh nên không cẩu thả, tuỳ tiện được! Quy định của Đảng là nói, viết và làm không được trái với chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nói thế không có nghĩa ông né tránh những mặt trái của xã hội trong sáng tác của mình. Ông vẫn viết về những điều không phải nhưng bao giờ ông cũng chỉ ra hướng tích cực đểđịa phương trong bút ký tham khảo và bạn đọc suy ngẫm.
Nhìn lại những tác phẩm của ông đã xuất bản: Trở về quá khứ (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thanh niên-2008), Cây lúa vùng cửa thác (Tập bút ký, Nhà xuất bản Hội Nhà văn-2009), Nỗi đau còn đó (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Thanh niên-2013), Lửa ngầm (Tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Lao động-2014) và nhiều tác phẩm in trên các báo và tạp chí Trung ương và địa phương, mới nhận thấy cái “chất lính” trong ông còn trĩu nặng trong các tác phẩm của mình. Tác phẩm của ông không dài, truyện ngắn dài nhất cũng chỉ mười lăm, mười sáu trang, ký trên dưới chục trang in trong các tập sách khổ 13x19 cm. Thế cũng đủ để ông trình làng những sáng tạo mang đậm hơi thở cuộc sông trong nghệ thuật. Sáng tạo nhưng không chút xa rời thực tế, những nhân vật trong truyện ngắn của ông đều xuất thân từ những câu chuyện có thật trong đời sống được ông “phù phép” cho nóng bỏng hơn, mang tính điển hình hơn, nhân văn hơn mà thôi. Những sự kiện trong bút ký của ông đảm bảo tính trung thực đến mức như chính người đọc được đến đó, được nhìn thấy sự việc, hiện tượng, con người ở nơi đó. Mảnh đấtvà con người Lào Cai đã được ông khai thác theo từng khía cạnh của chủ đề tác phẩm. Tên đất, tên người, tên những câu chuyện, những sự vật, sự kiện trong tác phẩm của ông đều ở Lào Cai, nơi ông cùng gia đình lên xây dựng quê hương mới từ những năm tháng tuổi còn rất trẻ và cũng từ mảnh đất địa đầu biên giới này, ông cùng với hàng ngàn thanh niên lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đất nước thống nhất, trở về với bản chất của người lính chiến, ông làm việc, học tập, viết văn, viết báo... việc nào cũng chỉn chu. Những cây lúa, cây quế, cây chè... những cánh rừng, dòng suối..., nhưng địa danh Trịnh Tường, Lũng Pô, Phú Nhuận, Ô Quý Hồ... trong bút ký; những bản làng mang tên sông suối, núi rừng bình dị: Pa Cheo Phìn, Cốc Sa, Vi Lùng, Nhù Cồ San, Ngải Chồ, Tà Lèng, Nậm Chón, Dong Cuông, Pắc Ta... và những nhân vật như Sùi, Sải, Páo, Mẩy, Lèn, Mẩy Ý, A Thào, Zuờ Lềnh, Pò Tung, Pò Páo, Sình, Xóa, Mí Và, Súa, Phìn... trong truyện ngắn chỉ có ở vùng núi cao quanh năm mây phủ, gió lùa, nơi trú ngụ của đồng bào các dân tộc ít người Dao. Mông, Tày, Giáy... luôn có mặt trong các tác phẩm của ông..., quá khứ cũng như hiện tại đều mang dấu ấn một thời kỳ của mảnh đất đậm đặc bản sắc dân tộc. Không ai được quên quá khứ, nhất là quá khứ của một thời cả dân tộc đứng lên giữ nước và cứu nước bi hùng, ông cũng vậy, những năm tháng chiến tranh mà ông là người trong cuộc đã cho ông những ký ức không quên: “...Trong nắng cuối chiều, đường phố thị xã miền núi rộn ràng theo nhịp còi xe giờ tan tầm làm việc.Những thanh niên nam nữ vừa đủng đỉnh đèo nhau trên xe máy vừa cười đùa ríu rít. Họ có biết bao nhiêu người trong chiến tranh đã hóa thân vào đất để cho họ có cuộc sống tươi xanh, hồn nhiên này.” (Truyện ngắn: Trăn trở Cánh Đồng Chum), “...Cây lúa mới tuy thấp nhưng đứng trên thế cao để chiến thắng nắng mưa, giá rét và trùm màu xanh lên trên đá. Sức mạnh của mép lá lúa mảnh mai đã cắt bỏ bộ rễ các tập tục lạc hậu bám chắc bao đời trong lòng Bát Xát...” (Bút ký: Sức vươn của cây lúa vùng cửa thác). Viết về hiện tại, ông khéo léo đưa về quá khứ và ngược lại. Hiện tại, quá khứ trong các tác phẩm của ông luôn đan xen vào nhau tạo nên bức tranh nhiều sắc màu của cuộc sống. Với cái nhìn nhân văn sâu sắc của ngươi cầm bút, hầu như truyện nào cũng có kết thúc rõ ràng dù giãi bày trong trang viết hay kín đáo giấu vào câu chuyện nhưng đủ để người đọc nhận biết tác giả đã gửi gắm cái tâm của mình vào đó. Là người đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống, khi còn trai trẻ cầm súng chiến đấu góp phân giải phóng non sông, khi trở về với những lo toan của người công chức mẫn cán đến ngày “hạ cánh” vẫn chất đầy trong tâm khảm ông là ký ức cùng những mong muốn bình yên và suôn sẻ của cuộc đời mình, của nhiều người quanh mình, tạo thành “ngân hàng” vốn sống để ông nhả dần vào số phận từng nhân vật trong mỗi truyện. Mấy chục năm gắn bó với đồng bào các dân tộc Lào Cai đã cho ông yêu thương, nâng niu trân trọng từng phong tục, tập quán truyền thống lành mạnh, đậm đà bản sắc của họ. Tình cảm ấy như thấm vào máu thịt, hằn vào từng nếp nghĩ và hóa thành hồn cốt trong từng trang viết của ông. Hầu hết các tác phẩm của ông đều viết về những con người, những địa danh ông từng sinh sống, ông từng đi qua. Biết bao số phận, bao cảnh đời ông từng chứng kiến hoặc nghe kể lại đọng vào tâm khảm ông, nó như tiếng cồng giục người viết văn cấy lên mặt giấy từng con chữ rút ra từ ruột gan mình. Những cảnh, những người trong mỗi tác phẩm như có hồn bước ra từ trang viết để rồi lại lặn vào con chữ cho người đọc phỏng đoán theo nhận thức, theo cách nghĩ riêng của mỗi người. Từ khi còn công tác và cả bây giờ, ông vẫn đi nhiều nơi, chứng kiến nhiều sự việc, gặp nhiều người để rồi ông say sưa viết trong sáng tạo về những sự việc điển hình, những nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình của cuộc sống. Điều đó cho thấy tình yêu của ông dành cho quê hương thứ hai của mình thắm thiết như thế nào.
Đã từng là người lính trực tiếp xông pha nơi đạn bom mịt mùng, ông thấu hiểu sự mất mát không gì so sánh được của người lính và những người thân trong chiến tranh. Cứ tưởng rằng cuộc chiến đã qua mấy chục năm rồi, tiếng nổ của sự chết chóc không bao giờ còn trên mảnh đất đã quá đau thương này, thế nhưng vẫn còn đó hậu họa của nó chưa dừng lại, nó lại xé toang cuộc sống bình yên của những con người đã nếm trải quá nhiều hy sinh, khổ đau đang mừng tủi cha con gặp nhau sau bao năm tìm kiếm. Niềm vui đó không át được nỗi đau mà di chứng dai dẳng của chiến tranh vùi lại. Đó là niềm tiếc thương người vợ, người đồng đội năm xưa, nay vì nghĩa cử đi tìm hài cốt liệt sĩ mà hy sinh: “Loạng choạng bước tới bàn thờ, hai tay ôm tấm ảnh vợ, zuờ Lềnh không khóc được, bởi nỗi đau này quá lớn. Ngoài kia, tiếng mấy đứa trẻ vọng lại. Cuộc sống vẫn cứ trôi đi thanh thản, bình yên nhưng nỗi đau vẫn còn đó.”(Nỗi đau còn đó). “Nỗi đau còn đó” như một bản án kết tội chiến tranh, nhưng vượt lên là tấm lòng của những người anh dũng trong chiến trận, bình dị trong cuộc sống thường nhật như zuờ Lềnh và nhiều người khác nữa. Họ là những người con của núi, sinh ravà lớn lên từ núi rất mộc mạc chất phác, đôn hậu, họ biết vượt lên số phận để đứng vững trong những hoàn cảnh đầy khó khăn như Lèn trong truyện “Bạn cùng học”, Mẩy Ý, A Thào trong “Hát qua làng”... Chính họ là những con người gạt nỗi đau thương phải gánh chịu thành sự vị tha lớn hơn thù hận: “Kín đáo kéo vạt áo chùi nước mắt, mé nhìn xuống thi thể nạn nhân đang phủ bằng mấy tầu lá chuối. Mé quay sang nói to với con trai: Pò Liên cho người về lấy cái vỏ chăn với cái ga giường trong tủ hàng ra đắp cho người ta. Đừng ngại ! Nghĩa tử là nghĩa tận mà!”(Lọn tóc đuôi gà) và cùng với lòng trắc ẩn bao dung: “Mặc cho mọi con mắt đổ dồn vào mình, Súa vụt chạy đuổi theo con. Hai bên đường những nương đào rực hồng hoa trong nắng.” (Dốc cổng trời). “A Thào và Mẩy Ỷ quay lại thấy một người đàn bà tiều tụy trong bộ quần áo bẩn thỉu, nhàu nất. Kẻ thân tàn ma dại ấy chính là mụ Díu, người dì ghẻ đang đầm đìa nước mắt. A Thào và Mẩy Y dìu mụ về nhà mình trong bao con mắt ngạc nhiên của mọi người.” (Hát qua làng). Bên những phận đời lóe sáng bước ra từ trong phũ phàng, lấy trái tim mình làm ngọn đưốc soi đường là những phận đời tăm tối phải trả giá cho những hành động xấu xa của mình như những nhân vật Hào trong “Hát qua làng”, Ngải trong “Lọn tóc đuôi gà”... đó là sự phán quyết công bằng của cuộc đời mà Nguyễn Xuân Mẫn được giao phán quyết trong trang viết của mình.
Năm 2025 này, ông đã ở tuổi bảy mươi tám, tuy sức khoẻ có giảm, nhưng mắt vẫn sáng, lòng vẫn trong, bút vẫn sắc để ông tiếp tục đi và viết. Có lẽ ở ông, ngồi yên một chỗ là điều trăn trở nhất, nên ông vẫn hăng hái lên đường như những ngày hành quân chiến đấu thời trai trẻ trong quân ngũ. Ông là Nguyễn Xuân Mẫn - người cựu chiến binh viết văn, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Liên hiệp Hội VHNT tỉnh Lào Cai.


