Người đại tướng tận hiến cho cách mạng và quân đội
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là nhà lãnh đạo và quân sự xuất sắc của cách mạng Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng Đảng, quân đội và lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng, đồng chí giữ nhiều cương vị quan trọng, góp phần phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân và xây dựng hậu phương vững mạnh cho đất nước.
Người đại tướng tận hiến cho cách mạng và quân đội
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng Đảng, xây dựng quân đội và phát triển đất nước. Với hơn 30 năm hoạt động cách mạng, đồng chí không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là tấm gương sáng về tinh thần cống hiến, lòng trung thành và ý chí kiên cường của người cộng sản.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tên khai sinh là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Chứng kiến cuộc sống khổ cực của người dân dưới ách áp bức của thực dân phong kiến, được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối cách mạng của Đảng, đồng chí sớm tham gia con đường đấu tranh cứu nước. Tháng 7 năm 1937, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và nhanh chóng được giao nhiệm vụ Bí thư chi bộ ở địa phương. Đến tháng 3 năm 1938, khi mới 24 tuổi, đồng chí được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, góp phần phát triển mạnh mẽ phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ tại địa phương.
Trong giai đoạn từ năm 1938 đến năm 1945, đồng chí ba lần bị địch bắt và giam giữ tại các nhà lao khắc nghiệt ở miền Trung. Tuy nhiên, ngục tù không làm lung lay tinh thần của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Trong tù, đồng chí cùng các chiến sĩ cách mạng thành lập chi bộ nhà lao, tổ chức học tập văn hóa, chính trị và đấu tranh chống chế độ áp bức của kẻ thù. Sau khi trở về với phong trào cách mạng, đồng chí tích cực phát động cao trào kháng Nhật cứu nước tại quê hương. Tháng 8 năm 1945, đồng chí tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Cũng từ đây, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Chí Thanh.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đồng chí trực tiếp lãnh đạo quân và dân Thừa Thiên xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và tổ chức chiến đấu chống thực dân Pháp. Trong điều kiện khó khăn khi thế trận kháng chiến bị phá vỡ, đồng chí vẫn kiên định chỉ đạo tiếp tục kháng chiến, củng cố cơ sở cách mạng, chỉnh đốn lực lượng và vận động Nhân dân giữ vững niềm tin chiến thắng. Đầu năm 1948, đồng chí được cử làm Bí thư Phân khu Bình – Trị – Thiên kiêm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, góp phần củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, tạo tiền đề cho những thắng lợi lớn hơn. Với những đóng góp nổi bật, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “Vị tướng du kích”.
Năm 1950, đồng chí được điều động vào quân đội và giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Trên cương vị này, đồng chí đặc biệt chú trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí, công tác Đảng và công tác chính trị trong quân đội có nhiều bước phát triển quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Năm 1959, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Không chỉ có đóng góp trong lĩnh vực quân sự, đầu năm 1961, đồng chí còn đảm nhiệm công tác phát triển nông nghiệp với cương vị Trưởng ban Công tác nông thôn Trung ương. Đồng chí trực tiếp đi thực tế tại nhiều địa phương, phát động các phong trào thi đua sản xuất như “Gió Đại Phong”, “Phá xiềng ba sào”, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và xây dựng hậu phương vững mạnh cho miền Bắc.
Tháng 10 năm 1964, đồng chí được Bộ Chính trị phân công giữ chức Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo miền Nam tìm ra nhiều phương châm tác chiến hiệu quả như “Cứ đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ”, “bám lấy thắt lưng địch mà đánh”, “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, quân và dân miền Nam giành nhiều thắng lợi quan trọng, đánh bại các cuộc phản công của Mỹ trong hai mùa khô 1965–1966 và 1966–1967, góp phần tạo tiền đề cho cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân năm 1968.
Ngày 06 tháng 7 năm 1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từ trần sau cơn đau tim đột ngột. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là biểu tượng của tinh thần tận tụy, ý chí kiên cường và tài năng lãnh đạo xuất sắc, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử cách mạng và Quân đội Nhân dân Việt Nam.



