NGƯỜI ĐÀN BÀ THÉP MANG DÁNG HÌNH ĐẤT NƯỚC Nguyễn Thị Bình – từ những năm tháng tù đày đến bàn đàm phán Paris
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Có những con người đi qua lịch sử bằng những chiến công vang dội. Có những con người được nhớ đến bởi những chức vụ họ từng đảm nhiệm. Nhưng cũng có những con người, chỉ cần nhắc đến tên, người ta lập tức hình dung ra cả một giai đoạn của dân tộc.
Nguyễn Thị Bình là một người như thế.
Trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt Nam, hình ảnh một người phụ nữ nhỏ nhắn trong tà áo dài, với gương mặt bình thản, ánh mắt cương nghị, ngồi giữa bàn đàm phán quốc tế ở Paris đã trở thành một biểu tượng đặc biệt. Đó không chỉ là hình ảnh của một nhà ngoại giao. Đó là hình ảnh của Việt Nam bước ra thế giới bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng hòa bình.
Bởi vậy, gọi bà Nguyễn Thị Bình là một “người đàn bà thép” không phải để nói về sự cứng rắn hay lạnh lùng. Cái “thép” trong con người bà nằm sâu hơn: đó là ý chí được tôi luyện qua mất mát, tù đày và chiến tranh; là sự kiên định nhưng không cực đoan, mềm dẻo nhưng không nhân nhượng trước những nguyên tắc liên quan đến độc lập, chủ quyền của dân tộc.
Và điều khiến tôi xúc động nhất khi tìm hiểu về cuộc đời bà là: phía sau một “Madame Bình” nổi tiếng trên bàn đàm phán quốc tế lại là một người phụ nữ đã có một tuổi trẻ đầy gian khó, từng phải hy sinh cả những hạnh phúc riêng tư để dành trọn đời mình cho đất nước.
Từ cô gái Châu Sa đến người chiến sĩ cách mạng
Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh ngày 26/5/1927. Bà xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước; ông ngoại là nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, ông nội từng tham gia phong trào Cần Vương. Những giá trị về lòng yêu nước, ý thức dân tộc và trách nhiệm với quê hương dường như đã được gieo vào tâm hồn cô gái trẻ từ những năm tháng đầu đời.
Nhưng lịch sử không cho bà một tuổi trẻ bình yên.
Mẹ mất khi bà mới 16 tuổi. Là chị cả trong gia đình, bà sớm phải thay cha mẹ chăm lo cho các em. Những năm tháng ấy có lẽ đã dạy cô gái Châu Sa một bài học mà không trường lớp nào có thể dạy: muốn đứng vững trước cuộc đời, trước hết phải biết tự đứng bằng đôi chân của mình.
Khi còn là học sinh, bà đã sớm thể hiện tinh thần yêu nước và lòng tự trọng dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bà tham gia các phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên và hoạt động xã hội. Năm 1948, bà được kết nạp vào Đảng. Những năm sau đó là những năm tháng hoạt động cách mạng đầy hiểm nguy. Bà từng bị bắt, bị giam tại khám Chí Hòa nhưng khi được trả tự do vẫn tiếp tục con đường mình đã lựa chọn.
Có lẽ chính từ những năm tháng ấy mà “chất thép” trong người phụ nữ này được hình thành.
Không phải thứ thép phô ra bên ngoài.
Mà là thứ thép nằm trong một niềm tin rất sâu: đã lựa chọn con đường vì đất nước thì không dễ dàng quay lưng trước gian nan.
Khi chiến trường chuyển vào bàn đàm phán
Năm 1968, khi cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào một giai đoạn quyết liệt, một “mặt trận” khác cũng mở ra – mặt trận ngoại giao.
Hội nghị Paris về Việt Nam là một trong những cuộc đàm phán cam go và kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Trong gần 5 năm, từ ngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973, các bên trải qua 202 phiên họp chung công khai và 24 cuộc tiếp xúc riêng trước khi Hiệp định Paris được ký kết.
Ở bàn đàm phán ấy, bà Nguyễn Thị Bình giữ vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bà cũng là nữ Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời.
Giữa những chính khách, nhà ngoại giao của các cường quốc, người phụ nữ Việt Nam ấy xuất hiện với một vóc dáng không hề áp đảo về hình thể.
Nhưng lịch sử chưa bao giờ được quyết định chỉ bằng vóc dáng.
Điều làm nên sức nặng của Nguyễn Thị Bình là lý lẽ, sự bình tĩnh và bản lĩnh.
Bà hiểu rằng trên bàn đàm phán, nóng nảy không thể thay thế cho lập luận; khẩu hiệu không thể thay thế cho sức thuyết phục; và một lời nói thiếu cân nhắc có thể làm mất đi cơ hội mà cả dân tộc đã phải trả giá bằng biết bao hy sinh mới có được.
Bà từng nhắc đến bài học ngoại giao mà mình tiếp thu được: không nhất thiết phải “đao to búa lớn”, mà phải biết thuyết phục bằng lý lẽ, tình cảm và thực tế.
Đó là một cách làm ngoại giao rất đặc biệt.
Mềm mà không yếu.
Cứng mà không cực đoan.
Kiên định nhưng luôn biết đối thoại.
“Madame Bình” – một hình ảnh Việt Nam trước thế giới
Trong những năm tháng tại Paris, hình ảnh “Madame Bình” trở nên quen thuộc với báo chí và dư luận quốc tế.
Mỗi khi xuất hiện, bà thường mặc áo dài Việt Nam.
Tôi đặc biệt ấn tượng với chi tiết ấy.
Bởi trong một hội trường ngoại giao quốc tế, nơi ngôn ngữ của quyền lực, chính trị và những toan tính chiến lược hiện diện từng giờ, người phụ nữ Việt Nam vẫn mang theo mình một biểu tượng rất đỗi giản dị: tà áo dài.
Tà áo ấy không phải một thứ trang sức.
Nó giống như một lời giới thiệu không cần phiên dịch:
Tôi đến đây từ một đất nước có lịch sử, có văn hóa, có lòng tự trọng và có quyền được sống trong hòa bình.
Nguyễn Thị Bình không chỉ nói thay cho một đoàn đàm phán. Ở một ý nghĩa rộng hơn, bà góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với công chúng quốc tế – một Việt Nam không chỉ hiện diện qua những tin tức về chiến tranh mà còn hiện diện bằng văn hóa, phẩm giá và tiếng nói của chính mình.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết.
Bà Nguyễn Thị Bình là người phụ nữ duy nhất trong bốn trưởng đoàn trực tiếp ký vào văn kiện lịch sử ấy.
Nhìn vào một chữ ký, có thể người ta chỉ thấy một khoảnh khắc.
Nhưng đằng sau chữ ký ấy là gần năm năm đàm phán; là hàng trăm phiên họp; là những cuộc đấu trí căng thẳng; là những người đã ngã xuống ngoài chiến trường; là những gia đình đã chịu mất mát; là một dân tộc đã đi qua chiến tranh bằng một ý chí bền bỉ.
Vì thế, giá trị của chữ ký ấy không nằm ở bản thân nét mực.
Nó nằm ở những gì dân tộc Việt Nam đã phải trải qua để có được nó.
Đằng sau “người đàn bà thép” là một người phụ nữ biết đau
Có một chi tiết trong câu chuyện về Nguyễn Thị Bình khiến tôi suy nghĩ rất lâu.
Đó là khi bà nói về gia đình mình.
Hoạt động cách mạng và công tác đối ngoại khiến bà không có nhiều thời gian chăm lo cho gia đình. Bà từng thừa nhận có lúc mình không làm tròn vai trò của một người vợ, người mẹ và các con đã chịu những thiệt thòi. Bà gọi đó là một sự hy sinh cần thiết cho đất nước.
Tôi nghĩ đây chính là điểm khiến hình ảnh Nguyễn Thị Bình trở nên gần gũi hơn.
Bởi lịch sử thường ghi nhớ những con người ở tầm vóc lớn lao, nhưng đôi khi quên mất rằng họ cũng là những con người bằng xương bằng thịt; họ cũng có gia đình, có những người thân chờ đợi, có những niềm riêng phải gác lại.
“Người đàn bà thép” không phải là một con người không biết mệt mỏi, không biết đau hay không có những phút yếu lòng.
Ngược lại, có lẽ chính vì biết đau mà sự hy sinh của bà càng trở nên đáng trân trọng.
Người ta chỉ có thể hiểu được giá trị của một sự cống hiến khi biết rằng phía sau nó có những điều rất riêng tư đã được đặt xuống để lựa chọn một điều lớn hơn.
Đó là Tổ quốc.
Sau chiến tranh, một hành trình cống hiến khác lại bắt đầu
Nếu câu chuyện về Nguyễn Thị Bình chỉ dừng ở Hội nghị Paris thì có lẽ chúng ta mới chỉ hiểu một phần cuộc đời bà.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà được giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Giáo dục từ năm 1976 đến năm 1987. Sau đó, bà tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng, trong đó có Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội và Phó Chủ tịch nước.
Điều đáng nói là khi chuyển từ ngoại giao sang giáo dục, bà lại bước vào một “mặt trận” hoàn toàn khác.
Nếu ngoại giao là cuộc đấu tranh để bảo vệ vị thế và lợi ích của đất nước trên trường quốc tế, thì giáo dục là cuộc đấu tranh âm thầm để xây dựng con người – những người sẽ tiếp tục xây dựng đất nước trong tương lai.
Có lẽ vì thế mà trong những năm tháng sau này, bà vẫn đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đạo đức và thế hệ trẻ.
Trong một lời nhắn gửi đến thế hệ hôm nay, bà từng nói một điều rất giản dị nhưng chứa đựng cả chiều sâu của một đời người: chuyên môn, nghề nghiệp phải giỏi, nhưng phải luôn đặt đạo đức lên hàng đầu.
Tôi cho rằng đó chính là một trong những di sản đẹp nhất mà bà Nguyễn Thị Bình để lại.
Bởi một đất nước không thể chỉ cần những người tài giỏi.
Đất nước cần những người tài giỏi và có đạo đức.
Bài học từ một cuộc đời
Ngày hôm nay, chúng ta đang sống trong hòa bình.
Thế hệ trẻ không phải bước vào những cuộc chiến tranh như thế hệ của bà Nguyễn Thị Bình. Chúng ta không phải sống trong những năm tháng bom đạn, không phải ngồi trên bàn đàm phán để quyết định những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia.
Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không có “mặt trận” của riêng mình.
Mỗi lớp học là một nơi để rèn luyện.
Mỗi cuốn sách là một cơ hội để mở rộng tri thức.
Mỗi khó khăn là một phép thử đối với nghị lực.
Mỗi lựa chọn đúng đắn hôm nay đều góp một phần nhỏ vào tương lai của đất nước.
Từ cuộc đời Nguyễn Thị Bình, tôi hiểu rằng yêu nước không nhất thiết phải bắt đầu bằng những điều phi thường.
Có khi, yêu nước bắt đầu từ việc học thật, làm thật, sống có trách nhiệm và không ngừng hoàn thiện chính mình.
Bà đã từng bước vào tuổi đôi mươi với một đất nướcchưa có hòa bình. Thế hệ chúng ta bước vào tuổi trẻtrong một đất nước hòa bình. Khoảng cách ấy rất lớn.
Nhưng có một điều không thay đổi:
Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm với đất nước mìnhđang sống.
Nếu thế hệ của Nguyễn Thị Bình đã dùng tuổi trẻ đểgiành lấy hòa bình, thì thế hệ hôm nay phải biết dùnghòa bình ấy để học tập, sáng tạo, xây dựng và bảo vệTổ quốc.
Và tôi hiểu vì sao bà được gọi là “người đàn bàthép”
Sau khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Thị Bình, tôikhông còn nghĩ “thép” là sự cứng rắn.
Thép là khả năng giữ vững mình khi đứng trước sứcép.
Thép là đi qua mất mát mà không đánh mất niềm tin.
Thép là biết mình nhỏ bé nhưng không bao giờ nghĩrằng mình không thể làm được điều lớn lao.
Thép là có thể mềm mại trong cách ứng xử nhưngkiên định trong những điều không thể nhân nhượng.
Và trên hết, thép là sống một cuộc đời có ích cho đấtnước.
Nguyễn Thị Bình đã đi qua gần một thế kỷ của lịchsử Việt Nam. Từ một cô gái Châu Sa sớm chịu mấtmát, đến người chiến sĩ cách mạng, nữ trưởng đoànđàm phán tại Paris, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởngGiáo dục rồi Phó Chủ tịch nước – ở mỗi cương vị, bàđều để lại dấu ấn của một con người tận tụy với đấtnước.
Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất không nằm ở nhữngchức danh.
Đó là cách bà đã sống.
Một cuộc đời không tìm kiếm sự nổi tiếng cho riêngmình, mà tìm cách làm những điều có ích cho đấtnước và cho những người yếu thế. Ngay cả khi tuổiđã cao, bà vẫn tiếp tục quan tâm đến thời cuộc, đếngiáo dục, đến thế hệ trẻ và tương lai của Việt Nam.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hiệp địnhParis được ký kết.
Những chiếc bàn đàm phán năm xưa có thể đã trởthành lịch sử.
Những cuộc tranh luận gay gắt của một thời cũng đãlùi vào quá khứ.
Nhưng hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong tà áodài, bình tĩnh và kiên định giữa thủ đô Paris vẫn cònđó.
Không chỉ trong những trang sách.
Mà trong ký ức của dân tộc.
Và có lẽ, mỗi khi nhắc đến Nguyễn Thị Bình, chúngta không chỉ nên nhớ đến một “Madame Bình” củaHội nghị Paris. Hãy nhớ đến một con người đã dànhgần trọn cuộc đời để trả lời câu hỏi lớn nhất của mộtthế hệ: mình có thể làm gì cho đất nước?
Câu trả lời của bà là cả một cuộc đời.
Còn câu trả lời của thế hệ chúng ta hôm nay sẽ đượcviết tiếp bằng chính cách chúng ta học tập, sống vàcống hiến.
Bởi những người như Nguyễn Thị Bình đã dùng tuổitrẻ của mình để mở ra một tương lai hòa bình.
Việc của chúng ta là làm sao để tương lai ấy trởnên xứng đáng với những hy sinh mà các thế hệ đitrước đã gửi lại.



