Anh hùng Lao động

Người Đan Chiếc Nón Lá Cho Mẹ

Đồng Tháp04/08/2026Đoàn phường Tân Tạo (Phường Tân Tạo)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 8 năm 1968, tại một đơn vị công binh đang làm nhiệm vụ mở đường ở Quảng Bình, những ngày nắng gắt khiến ai cũng mong có thêm một chút bóng râm. Chiếc mũ cối giúp che nắng khi hành quân, nhưng những lúc nghỉ ngơi hay làm việc bên bờ suối, nhiều chiến sĩ vẫn nhớ hình ảnh chiếc nón lá quê nhà.

Chiến sĩ Nguyễn Văn Hậu, hai mươi ba tuổi, quê ở Huế, thường ngồi rất lâu mỗi khi nhìn những tàu lá cọ ven rừng.

Trước khi nhập ngũ, mẹ anh là người đan nón nổi tiếng trong làng.

Từ nhỏ, Hậu đã quen với tiếng kim xuyên qua từng lớp lá và mùi thơm của vành tre mới vót.

Một buổi chiều, đơn vị nghỉ chân bên một bản nhỏ.

Hậu xin bà con vài tàu lá cọ đã phơi khô và ít nan tre.

Đêm xuống, dưới ánh đèn dầu leo lét, anh bắt đầu đan.

Đồng đội nhìn thấy thì trêu:

"Cậu tính mở chợ bán nón à?"

Hậu cười hiền.

"Không."

"Tôi muốn gửi về cho mẹ."

Ai cũng im lặng.

Đã hơn ba năm Hậu chưa được gặp mẹ.

Anh cẩn thận vuốt từng chiếc lá.

Khâu từng đường chỉ.

Nắn từng vòng vành tre thật đều.

Chiếc nón hoàn thành sau ba đêm.

Không đẹp bằng nón mẹ từng làm.

Nhưng rất chắc.

Ở phía trong vành nón, Hậu dùng mũi dao nhỏ khắc một hàng chữ:

"Con trai luôn nhớ mẹ."

Ít lâu sau, đơn vị có dịp chuyển thư và quà về hậu phương.

Hậu gói chiếc nón trong hai lớp vải dù.

Anh còn đặt thêm vài cành hoa rừng đã ép khô.

Một người đồng đội hỏi:

"Sao không gửi gì quý hơn?"

Hậu mỉm cười.

"Với mẹ, chiếc nón này là đủ."

Hai tháng sau, anh nhận được thư hồi âm.

Mẹ viết rằng bà đã đội chiếc nón ấy ra đồng.

Bà không nỡ để nắng làm bạc màu.

Nhưng muốn mỗi ngày đều cảm thấy như con trai đang ở bên mình.

Đọc đến đó, Hậu lặng người.

Anh gấp lá thư lại thật cẩn thận rồi cất vào túi áo.

Những ngày sau, mỗi khi có chiến sĩ nhớ nhà, Hậu lại kể câu chuyện về chiếc nón.

Anh bảo:

"Chúng ta đang ở xa."

"Nhưng tình cảm thì không bao giờ xa."

Trong buổi sinh hoạt truyền thống, chính trị viên kể về Mẹ Suốt, người phụ nữ ngày ngày chèo đò đưa bộ đội qua sông giữa mưa bom bão đạn.

Ông nói:

"Có những người mẹ không cầm súng."

"Nhưng trái tim của họ luôn ở nơi tiền tuyến."

Cả đơn vị lặng đi.

Nhiều người nhớ đến mẹ mình.

Có người lặng lẽ lấy giấy viết thư ngay trong đêm.

Mùa xuân năm 1975, Hậu trở về quê.

Mẹ anh vẫn còn giữ chiếc nón ấy.

Màu lá đã ngả vàng.

Đường chỉ cũng cũ.

Nhưng bên trong vẫn còn nguyên dòng chữ nhỏ.

Bà nói:

"Mẹ chưa bao giờ đội chiếc nón nào quý như chiếc này."

Sau đó, Hậu nối nghiệp mẹ.

Anh mở một tổ hợp tác làm nón lá trong làng.

Mỗi khi dạy lớp trẻ, anh không chỉ hướng dẫn cách chọn lá, vót vành hay khâu nón.

Anh còn kể về những năm tháng chiến tranh.

Về một chiếc nón được đan giữa đại ngàn.

Về tình mẫu tử đã giúp người lính vượt qua biết bao gian khổ.

Một buổi chiều, cô cháu gái cầm chiếc nón cũ lên rồi hỏi:

"Chú ơi, chiếc nón này méo rồi, sao mình không làm cái mới?"

Hậu nhẹ nhàng nhận lấy.

Anh vuốt lên vành tre đã sẫm màu.

"Chiếc mới có thể đẹp hơn."

"Nhưng không chiếc nào chứa nhiều yêu thương như chiếc này."

Ngoài sân, những tàu lá cọ khẽ rung trong gió.

Tiếng trẻ con cười đùa vang lên khắp xóm nhỏ.

Hậu nhìn lên bầu trời trong xanh.

Anh hiểu rằng, trong thời hoa lửa, có những món quà không mang giá trị vật chất lớn lao.

Nhưng lại mang theo cả nỗi nhớ, niềm tin và tình yêu thương của hậu phương dành cho tiền tuyến.

Chính những điều bình dị ấy đã tiếp thêm sức mạnh để người lính vững vàng đi qua chiến tranh, trở về trong ngày đất nước trọn niềm vui thống nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn