Khác

Người dân công hoả tuyến tại Đường 9 - Nam Lào

Ở tuổi 87, ông Võ Văn Lục (cư trú tại phường Đồng Thuận, tỉnh Quảng Trị - Quảng Bình cũ) vẫn nhớ như in về những ngày tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến phục vụ Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) tại tuyến Đường 9 – Nam Lào.

Quảng Trị07/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở tuổi 87, ông Võ Văn Lục (cư trú tại phường Đồng Thuận, tỉnh Quảng Trị - Quảng Bình cũ) vẫn nhớ như in về những ngày tham gia lực lượng dân công hỏa tuyến phục vụ Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) tại tuyến Đường 9 – Nam Lào.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Bình cùng Vĩnh Linh trở thành tuyến đầu của hậu phương lớn miền Bắc, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam và là cầu nối giao thông miền Bắc và miền Nam. Trong việc đưa sức mạnh của hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam, căn bản là cấp thiết trước hêt là đảm bảo huyết mạch giao thông vận tải. Là một minh chứng lịch sử của những chuyến hành quân ấy, ông Võ Văn Lục tham gia Dân công hỏa tuyến tại tuyến Đường 9 – Nam Lào năm 1965. Là một người cháu luôn thích thú về những câu chuyện lịch sử, đặc biệt là những câu chuyện của người ông ngoại đáng quý, em đã được ông kể lại những chặng đường đầy chông gai, mồ hôi nước mắt hay thậm chí là máu xương của những bước chân thầm lặng đã phải ở lại cùng với đất đá Trường Sơn. Năm ấy khi được nhận lệnh, ông cùng mọi người hành quân trên tuyến Đường 9 – Nam Lào, khi đi ông và đồng đội mỗi người vác trên vai 20kg tư trang và gạo và khoảng 25kg hàng hóa cần vận chuyển, đi bộ ròng rã suốt một tháng, đêm đi ngày nghỉ lên đến sát mặt trận, nhập hàng lên các ô tô trên đường chính để vận chuyển hàng hóa vào Nam Cùng nụ cười trên môi, ông lại dí dỏm tâm sự về những lần tiểu đội của ông phải xin củ Sắn từ các bản làng để ăn vì giây phút chủ quan lúc chuẩn bị đồ thì thiếu muối ăn, có lúc thiếu quá xin các vị trí có bộ đội đóng quân, ông bảo: “ Thèm muối quá, xin các chú bộ đội rồi nhai cả nắm mà không thấy mặn mà thấy đỡ thèm”. Trên con đường hành quân việc thiếu nước, thiếu lương thực là không tránh khỏi, không những thế mà còn thiếu muối và thật vậy có tác phẩm mang tên “Đói cơm nhạt muối không sờn” của tác giả Hoàng Tuân viết về hành trình vượt Trường Sơn cùng trải nghiệm thiếu thốn ấy. Lần đầu sang tới đất Lào, tiểu đội ông đi qua những sạp bán chuối, dân Lào thật thà họ chỉ lấy 2000 đồng cho một nải chuối nhưng tiểu đội ông không ai mang theo tiền để mua, sau lần đó khi sang tới thì người dân bên ấy đã tăng giá lên. Khi đêm xuống, dân công hỏa tuyến mới nổi lửa nấu cơm, cơm ấy dùng cho cả ngày vì sợ máy bay địch đánh bom. Ông kể lại rằng có lần ấy, tiểu đội của ông đi ngang một bản làng từng bị Mỹ rải chất độc màu da cam quang cảnh lúc ấy không còn dáng vẻ của một nơi dành cho con người sinh sống khi mà cây cỏ héo khô, rừng bị tàn phá nặng nề, xác động vật... khi ấy ông cùng đồng đội phải lấy áo che mũi miệng để tránh tiếp xúc với chất độc. Địa hình núi hiểm trở, gặp nhiều khó khăn trên đường đi, lần ấy tiểu đội ông phải lội qua sông Bến Hải (biên giới Quảng Bình – Quảng Trị) phải dùng cây mây cột quanh người để lội qua. Vì thời điểm ấy là mùa mưa, mưa lớn, lũ lụt và mực nước trên các con sông dâng cao và riêng ở sông Bến Hải lúc ấy nước đã dâng lên tới ngực của ông nên lúc băng qua sông phải cẩn thận, khi nghe tiếng sấm sét vang thì chân phải vừa vững vừa nhanh nếu không sẽ bị nước lũ cuốn trôi. Và ở chính con sông ấy một người bạn của ông ở một tiểu đội khác đã hi sinh, ông nhận được tin sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ trở về nhà mới được báo tin dữ. Có lần em hỏi rằng: “ Ông ơi! Có lần nào ông chạm trán lính Mỹ chưa?”, thì ông cười rồi bảo rằng: “Gặp thì chỉ có mất xác thôi cháu ạ”, nhưng không được may mắn như tiểu đội của ông, có lần tiểu đội Lệ Thủy đã đi nhầm đường vào khu trại của bọn địch, chạy bạt mạng mới thoát thân được. Đúc rút kinh nghiệm của những nhóm đi trước khi đi trên đèo 1001 (tên gọi này được lấy từ chính độ cao của đèo cao 1001m) thì các tiểu đội sau đi ở dưới chân đèo để tránh rủi ro như trượt ngã lăn xuống đèo dốc.
Chi tiết về những lần dìu dắt nhau khi trong đội có người say nắng hay mất nước, ngất xỉu... điều đó làm em càng thêm khâm phục không chỉ ở sức chịu đựng phi thường của những người lính mà còn là ngưỡng mộ tình bạn, tình đồng chí cao cả không để ai phải lùi bước. Những đôi chân đi bộ vạn dặm, những thân hình mảnh mai ấy không chỉ gánh vác hàng hòa mà còn gánh cả niềm tin và ý chí sắt đá của cả một dân tộc.
Câu chuyện về những hậu phương âm thầm tiếp lửa cho thế hệ trẻ chúng ta nói riêng, toàn thể dân tộc nói chung thấy rằng hòa bình không chỉ được đổi bằng máu của người chiến sĩ cầm súng, mà còn từ mồ hôi, nước mắt của những người dân bộ hành thầm lặng. Khơi gợi niềm tự hào trong mỗi chúng ta, từ những câu chuyện, những ý chí sắt đá được lưu giữ thổ lộ cho ta về sức mạnh của sự kiên trì: “ Đường dù xa đến đâu, cứ đi rồi sẽ đến”.
Từ những câu chuyện tưởng như vụn vặt trong lời kể bông đùa của ông, nhưng em hiểu rõ những mẩu chuyện ấy là cả hành trình của ông và những người lính, anh hùng dân tộc đổ bao mồ hôi, nước mắt, xương máu để giành độc lập dân tộc, hòa bình Tổ quốc. Qua đó, bản thân em nhìn nhận được tầm quan trọng của lòng nhẫn nại không chùn bước trước khó khăn kéo dài, sống vì cộng đồng khi đặt lợi ích chung lên trên những đau đớn, mệt mỏi cá nhân.
Em mong muốn chia sẻ câu chuyện này để tôn vinh “Những đôi chân vạn dặm” của lực lượng Dân công hỏa tuyến – lực lượng nối liền mạch máu của Tổ quốc, giúp thế hệ trẻ hôm nay thêm trân trọng mỗi dặm đường hòa mình mà mình đang bước đi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn