Người Đan Những Chiếc Nón Lá Cho Tiền Tuyến
Cuối năm 1966, tại một căn cứ kháng chiến ở vùng Đồng Tháp Mười, nắng phương Nam gay gắt đến mức chỉ cần đứng ngoài trời vài giờ, khuôn mặt người lính đã sạm đi vì nắng. Những chiếc mũ cối tuy bền nhưng không phải lúc nào cũng đủ cho tất cả đơn vị, nhất là các đội dân công và giao liên thường xuyên hoạt động giữa đồng nước.
Trong căn cứ có một tổ nhỏ chuyên đan nón lá.
Người phụ trách là chị Mai Thị Hạnh, hai mươi lăm tuổi, quê ở Huế.
Trước ngày tham gia cách mạng, Hạnh lớn lên trong một gia đình nhiều đời làm nón. Từ khi mới mười ba tuổi, chị đã biết lựa lá, chuốt vành tre, khâu từng vòng chỉ thật đều để làm nên một chiếc nón đẹp.
Ngày rời quê lên đường, mẹ chỉ kịp đưa cho chị một cây kim khâu nón và dặn:
"Dù ở đâu cũng giữ lấy đôi bàn tay khéo léo."
Lời dặn ấy theo chị vào tận chiến khu.
Lá nón trong rừng không đẹp như lá cọ ngoài quê.
Có chiếc quá dày.
Có chiếc lại dễ rách.
Hạnh cùng đồng đội phải đi rất xa mới tìm được những tàu lá phù hợp.
Lá được hong trên bếp cho vừa đủ khô rồi ép phẳng bằng hai tấm gỗ.
Tre làm vành nón phải là tre bánh tẻ.
Già quá thì giòn.
Non quá thì dễ cong.
Mỗi chiếc nón mất gần một ngày mới hoàn thành.
Một chiến sĩ trẻ đội thử rồi cười:
"Nón chị làm nhẹ hơn mũ cối nhiều."
Hạnh mỉm cười:
"Miễn che được nắng cho các anh là vui rồi."
Không chỉ làm nón mới, chị còn nhận sửa những chiếc nón đã rách.
Có chiếc thủng vì mảnh bom.
Có chiếc gãy vành sau nhiều tháng hành quân.
Chị cẩn thận thay từng nan tre, khâu lại từng đường chỉ.
Nhìn từ xa, khó ai nhận ra đó là chiếc nón đã được vá.
Một buổi trưa, đơn vị tiếp nhận một đoàn dân công hỏa tuyến vừa vượt quãng đường dài.
Nhiều người phải dùng khăn quấn đầu vì không còn nón.
Hạnh cùng tổ của mình thức gần trọn đêm.
Tiếng kim xuyên qua lá nón đều đều dưới ánh đèn dầu.
Đến sáng, hơn ba mươi chiếc nón mới được xếp ngay ngắn trước cửa lán.
Khi nhận nón, một bác dân công lớn tuổi xúc động nói:
"Các cô không ra mặt trận, nhưng vẫn đang giúp chúng tôi."
Hạnh chỉ khẽ lắc đầu.
"Ai cũng đang ở mặt trận của mình."
Có lần, sau một trận càn, kho vật liệu bị cháy.
Lá nón còn rất ít.
Hạnh nghĩ ra cách tận dụng những phần lá còn nguyên trên các chiếc nón cũ.
Chị cắt thành từng mảnh nhỏ rồi khâu chồng lên nhau theo hình nan quạt.
Chiếc nón không còn đẹp như trước.
Nhưng vẫn đủ chắc để che nắng, che mưa.
Không một chiếc lá nào bị bỏ phí.
Trong buổi sinh hoạt truyền thống, chính trị viên kể về đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, người nữ chiến sĩ kiên trung luôn giữ vững niềm tin cách mạng trong mọi hoàn cảnh.
Ông nói:
"Người phụ nữ Việt Nam không chỉ mạnh mẽ khi đối mặt với gian nguy."
"Họ còn bền bỉ cống hiến bằng sự khéo léo và lòng tận tụy."
Hạnh cúi nhìn đôi tay mình.
Những đầu ngón tay đã chai vì kim đâm.
Nhưng chị chưa bao giờ thấy hối tiếc.
Bởi mỗi chiếc nón hoàn thành đều theo những người lính, những người giao liên và dân công đi qua biết bao cánh đồng, khu rừng và tuyến đường khói lửa.
Sau ngày đất nước thống nhất, Hạnh trở về Huế.
Chị mở lại một căn nhà nhỏ chuyên làm nón lá.
Khách du lịch thích những chiếc nón thanh mảnh của chị.
Nhưng ít ai biết, người thợ ấy từng thức trắng nhiều đêm giữa chiến khu để kịp đan nón cho tiền tuyến.
Một buổi chiều, cô cháu gái học nghề hỏi:
"Cô ơi, làm sao để khâu vành nón cho thật đều?"
Hạnh mỉm cười.
"Đừng chỉ khâu bằng đôi tay."
"Hãy khâu bằng sự kiên nhẫn."
Nhiều năm sau, trên gác bếp của ngôi nhà cũ vẫn còn treo một chiếc nón đã ngả màu thời gian.
Chiếc nón ấy không bán.
Cũng không dùng.
Đó là chiếc nón cuối cùng chị làm trong những ngày còn ở chiến khu.
Mỗi lần nhìn thấy nó, Hạnh lại nhớ đến những đoàn người lặng lẽ đi dưới nắng, những bước chân không mỏi vì độc lập và tự do.
Chiếc nón lá mộc mạc ấy không phải là vũ khí.
Nhưng nó đã che chở biết bao con người trong những năm tháng thời hoa lửa.
Và cũng như hàng triệu việc làm thầm lặng khác, những mũi kim của người thợ đan nón đã góp phần dệt nên sức mạnh bền bỉ của cả dân tộc trên con đường đi đến hòa bình.



