"Người đàn ông trong sách giáo khoa"
"Người đàn ông trong sách giáo khoa"
Những trang sách giáo khoa tiểu học năm nào đã mở ra trong tâm trí tôi hình ảnh
một "người hùng bầu trời" đầy ngưỡng mộ - AHLLVTND Phạm Tuân. Ngày ấy,
Anh hùng lực
lượng vũ trang
nhân dân Phạm
Tuân- người
Việt Nam đầu
tiên bay vào vũ
trụ
Người đàn ông trong sách giáo khoa
Jjjjjbbhbbbbbbbbbbbbbbbbbb
TRUNG TƯỚNG-ANH HÙNG LLVTND,
ANH HÙNG LAO ĐỘNG-ANH HÙNG LIÊN XÔ
PHẠM TUÂN
khi còn là đứa trẻ với những suy nghĩ ngây thơ,mơ mộng;tôi đã được nghe cô giáo
của mình kể về trận chiến oai hùng nơi ông hạ gục "pháo đài bay" B-52, rồi lại ngỡ
ngàng trước hành trình vươn tới những vì sao xa xôi của ông. Với đứa trẻ là tôi khi
đó, ông không chỉ là một nhân vật lịch sử mà còn là minh chứng sống động cho
việc biến những điều không thể thành có thể. Giờ đây, khi có dịp viết về ông, lòng
tôi vẫn vẹn nguyên niềm tự hào về người con đất Việt đầu tiên bay vào khoảng
không vũ trụ bao la. Những câu chuyện về ông trong sách năm xưa chính là hạt
giống đầu tiên nuôi dưỡng trong tôi khát vọng vươn xa và niềm tin vào sức mạnh
của ý chí. Phạm Tuân mãi là một biểu tượng rực rỡ, một dấu son chói lọi kết nối
giữa tinh thần dũng cảm dưới mặt đất và ước mơ chinh phục những tầm cao mới.
Người đầu tiên của Việt Nam và châu Á bay lên vũ trụ vào năm 1980 trong chương
trình Interkosmos của Liên Xô là ai?
-Trung Tướng AHLLVTND Phạm Tuân sinh ngày 14, tháng 2, năm 1947
-Quê ở xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
-Trường lớp:Học viện Không quân Gagarin (Liên Xô) ,Trường Phi công Hàng
không Quân sự Cao cấp Krasnodar
-Đảng phái chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam
-Nguyên Chủ tịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
Ông có vợ là thượng tá bác sĩ quân y (đã nghỉ hưu) Trần Thị Phương Tiến và hai
con Phạm Hằng Thu, Phạm Anh Tuấn, con nuôi là Võ Thị Công My. Ông đi bộ
đội, được tuyển vào binh chủng Không quân Nhân dân Việt Nam năm 1965, tốt
nghiệp Trường phi công quân sự ở Liên Xô năm 1967 và trở thành sĩ quan lái máy
bay chiến đấu cúa Trung đoàn 921 Sao Đỏ, tham gia chiến đấu bảo vệ vùng trời
Miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Ông là đảng viên của
Đảng Lao động Việt Nam trong năm này và chính thức là vào năm 1968. Giữa năm
1972, ông là một trong 12 phi công được chọn để đào tạo lái tiêm kích bay đêm,
chuẩn bị cho việc bắn hạ máy bay B-52 (tiêm kích bay đêm yêu cầu kỹ thuật cao
hơn nhiều so với lái tiêm kích ban ngày).
Hà Nội mùa đông năm 1972 cách đây 54 năm đã chứng kiến 12 ngày đêm khói lửa
trong trận chiến Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không với chiến thắng vang dội, đập
tan âm mưu của đế quốc Mỹ đưa Hà Nội về thời kỳ “đồ đá”. Theo tài liệu lịch sử
không chính thức của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông bắn rơi một máy bay B-52
của Mỹ, trở thành người đầu tiên bắn hạ được loại máy bay này từ trên không và
trở về an toàn, nếu không kể một phi công khác tên là Vũ Đình Rạng đã bắn trúng
máy bay B-52 của không quân Mỹ vào ngày 20 tháng 11 năm 1971 (tuy nhiên Vũ
Đình Rạng chỉ phóng 1 tên lửa nên chiếc B-52 không rơi ngay tại chỗ mà chỉ bị
hỏng nặng và vẫn cố hạ cánh được xuống sân bay), nhưng vì hỏng quá nặng nên
không sửa được và đã bị tháo dỡ. chiếc MiG-21FM của Phạm Tuân cất cánh hồi 22
giờ 16 phút đêm ngày 27 tháng 12 năm 1972 từ sân bay dã chiến Yên Bái, theo
chiến thuật "đi thấp kéo cao" nhằm tránh radar của máy bay địch. Sau khi dẫn
đường mặt đất thông báo cách phi đội địch 8-9 km, Phạm Tuân kéo cao rồi tăng tốc
máy bay, dùng tốc độ cao để bất ngờ bay vọt qua hai tốp F-4 hộ tống, khiến những
chiếc F-4 không kịp phản ứng.Sau khi vọt qua đội F-4 hộ tống, ông tiếp cận hai
chiếc B-52, khi còn cách B-52 khoảng 4 km, dẫn đường mặt đất ra lệnh bắn, nhưng
Phạm Tuân chờ thêm mấy giây để tiếp cận gần hơn rồi mới bắn[11. Chiếc MiG-21
cũng tắt radar và các thiết bị liên lạc đề B-52 không phát hiện ra là đang bị áp sát.
Ông bắn rơi một chiếc trên vùng trời phía tây Hà Nội bằng 2 quả tên lửa không đối
không NHK-8-9-1-2, rồi trở về hạ cánh xuống sân bay Yên Bái.
Phạm Tuân kể rằng: Do B-52 trang bị nhiều mồi nhiệt làm nhiễu đầu dò tên lửa
nên ông đã cố gắng áp sát B-52 ở cự ly 2-3 km rồi mới phóng tên lửa (dù tấm bắn
của tên lửa là 8 km), ở cự ly này tên lửa chỉ mất 2-3 giây để tới mục tiêu nên chiếc
B-52 sẽ không kịp thả mồi nhiễu. Rút kinh nghiệm từ vụ của Vũ Đình Rạng (chỉ
phóng 1 quả tên lửa thì không đủ để hạ tại chỗ B-52) nên ông đã phóng liền cả hai
tên lửa vào mục tiêu, không giữ lại tên lửa dự phòng. Sau khi bắn, Phạm Tuân
giảm tốc, kéo máy bay lên cao và lật ngửa máy bay để thoát ly thì nhìn thấy chiếc
B-52 nố, sau đó máy bay bay lao vượt qua phía trên điểm nổ. Tuy nhiên do động
tác kéo cao-thoát ly cấp tốc này nên máy ảnh phía mũi chiếc MiG-21 đã không thể
chụp lại khoảnh khắc đó làm tư liệu.
Một số nguồn tài liệu Hoa Kỳ cho rằng tên lửa của ông đã bắn trượt, chiếc
B-52 đã trúng tên lửa SAM-2 rồi nổ trên không trung, khiến Phạm Tuân nghĩ rằng
tên lửa của ông đã phá hủy mục tiêu.Nhưng nếu dưới góc độ kỹ thuật phân tích,
điều này là rất khó xảy ra. Thời gian từ khi phóng tên lửa tới khi thoát ly của Phạm
Tuân chỉ kéo dài 4-5 giây. Trong khoảng thời gian chỉ tích tắc đó, rất khó có
chuyện trùng hợp tới mức chiếc B-52 vừa thoát khỏi tên lửa từ MiG lại bị trúng
ngay SAM-2 từ mặt đất phóng lên trí của ông ban đầu thuộc về phi công Nguyễn
Văn Cốc, nhưng ông Cốc về sau bị loại vì không vượt qua bài kiểm tra thể lực.
Cùng được chọn với Phạm Tuân còn có phi công dự bị Bùi Thanh Liêm, người sẽ
thế chỗ Phạm Tuân nếu có sự cố bất ngờ.
Chính câu chuyện của Phạm Tuân đã mang lại niềm hy vọng, tinh thần chiến đấu
kiên cường bất khuất của nhân dân ta. Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên
không đã buộc Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán để ký Hiệp định
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng thời cũng tạo tiền đề cho
cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975.Do thành tích này,
ngay sáng hôm sau (tức sáng 28/12) ông đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi
điện khen. Ông được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt
Nam ngày 3 tháng 9 năm 1973, khi đó ông đang là Đảng viên, Thượng úy, Trung
Đội trưởng thuộc Đại đội 5, Trung đoàn 921, Sư đoàn Không quân 371, Bộ Tư
lệnh Phòng không - Không quân.
Năm 1980, Phạm Tuân khi đó mới 33 tuổi đã trở thành người đầu tiên của Việt
Nam và châu Á bay vào vũ trụ. Cơ may này đến với ông khi năm 1977 Phạm Tuân
được cử sang Liên Xô học tại Học viện Không quân Gagarin. Năm sau ông được
chuyển loại sang bay vũ trụ. Phạm Tuân được chọn vào đội bay quốc tế thứ sáu
trong chương trình Interkosmos của Liên Xô ngày 1 tháng 4 năm 1979. Khi chọn
phi công vũ trụ, phía Liên Xô kiểm tra tất cả phi công và kỹ sư Việt Nam nhưng
chỉ chọn được 3 vì nhiều người không vượt qua được các bài kiểm tra thể lực.
Anh hùng Phạm Tuân cho biết, tàu vũ trụ bay quanh trái đất trong điều kiện không
có khí quyển, không trọng lượng. Để đảm bảo chuyến bay trong vũ trụ, phi công
phải chịu đựng được sự tăng trọng lực khi con tàu được phóng lên, chịu được
không trọng lượng khi tàu bay quanh vũ trụ; thích nghi với tốc độ và độ quay của
con tàu. Tức là hệ thống tiền đình của phi công phải thích nghi được với điều kiện
đặc biệt mà dưới đất không có.
“Ô tô tốc độ thường là 120 - 150 km một giờ, máy bay là 900 km một giờ nhưng
tàu vũ trụ có vận tốc 7,92 km một giây. Với tốc độ đó, hệ thống tiền đình của
chúng ta chưa bao giờ thu nhận khi ở mặt đất. Ngoài ra, con người ở vị trí cân bằng
về lực nên mất sức hút của trái đất, máu không lưu thông bình thường mà đưa lên
đầu nhiều hơn xuống chân”, ông phân tích.
Ông chia sẻ, lái máy bay chiến đấu, máy bay vận tải chỉ kéo dài vài tiếng và trên
đường bay có thể hạ cánh nhưng bay trong vũ trụ không phải lúc nào cũng hạ cánh
được. Có khi muốn hạ cánh chỗ này lại chệch sang chỗ khác nên phi công vũ trụ
phải đảm bảo đủ sức khỏe, tỉnh táo để điều khiển con tàu an toàn.
Miệt mài luyện tập sức khỏe trong một năm rưỡi trước khi ngồi lên con tàu vũ trụ,
anh hùng Phạm Tuân nhớ bài tập đầu tiên là ly tâm. Phi công ngồi trên một cái ghế
được đặt với một cánh tay đòn dài khoảng 5 - 7m và quay tròn. Việc này sẽ tạo ra
quá tải, lực đè lên người phi công khoảng 5-10-12 lần trọng lượng cơ thể. Mục
đích của bài tập là để kéo máu trong cơ thể dồn xuống dưới, để xem khi não thiếu
máu thì sức chịu đựng của người đó ra sao.
Bài tập thứ 2 là quay tiền đình. Phi công ngồi trên ghế được quay tròn, cứ 3 giây
lại cúi đầu xuống tạo cánh tay đòn đưa máu lên não, 3 giây lại ngẩng đầu lên để
máu tụt xuống. Nếu bình thường đi lại thì đầu quay 15-20 độ mỗi giây, nhưng
trong trường hợp này thì quay liên tục khiến đầu óc rối loạn. Khi thi tuyển, mỗi
người phải ngồi 10 phút trên ghế, nhưng nhiều người chỉ ngồi 5-7 phút thì bị nôn.
Phi công Phạm Tuân cùng nhà du hành vũ trụ Xô viết Viktor Vassilyevich Gorbatko
thực hiện chuyến bay vào vũ trụ năm 1980.
1 giờ 33 phút ngày 23/7/1980 (giờ Hà Nội), Phạm Tuân cùng nhà du hành vũ trụ
Xô Viết Viktor Vassilyevich Gorbatko được phóng vào không gian từ sân bay vũ
trụ Baikonur trên tàu Soyuz 37. Vận tốc phóng nhích dần từ 0 đến 7,92 km một
giây, lên đến độ cao 300 km thì tàu bay song song với trái đất và đạt vận tốc cao
nhất. Và họ trở về Trái đất ngày 31 tháng 7 trên tàu Soyuz 36. Họ thực hiện nhiệm
vụ trên trạm không gian Salyut 6 cùng với hai nhà du hành vũ trụ Xô viết khác.
Hành trang ông mang theo là ảnh gia đình, vợ con, phong thư, ảnh Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Tổng bí thư Lê Duẩn, một nắm đất Ba Đình, bản Tuyên ngôn độc lập, di
chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cờ Việt Nam và cờ Nga.... Tất cả sẽ được đóng
dấu trạm vũ trụ và mang trở về mặt đất.
Khi bay trời đang tối và lúc thấy ánh sáng thì con tàu đã vào vùng biển Nhật Bản,
rồi sau đó ông nhìn thấy hình ảnh trái đất... Với vai trò phi công thí nghiệm, kỹ sư
của con tàu, Phạm Tuân ngồi ở vị trí lái phụ, chịu trách nhiệm toàn bộ thông
số,bảng điều khiển của tàu. Khi có tình huống khẩn cấp thì ấn những nút giúp chỉ
huy xử lý.
Con tàu vũ trụ đi 9 phút thì lên đến quỹ đạo và một ngày sau mới lắp ráp xong trạm
vũ trụ. Tại đây, hai phi công cùng làm việc, thực hiện các thí nghiệm trong tình
trạng không trọng lực; quan sát bề mặt trái đất xem mũi đứt gãy để phán đoán vị trí
các mỏ khoáng sản; quan sát hướng chảy của sông, vùng biển tập trung nhiều cá để
hướng dẫn ngư dân; quan sát các hành tinh xa... Phạm Tuân cũng tiến hành các thí
nghiệm cây trồng trên bèo hoa dâu. Ông còn chụp ảnh đất nước Việt Nam từ quỹ
đạo Trái Đất. Anh hùng Phạm Tuân đã ở trong không gian trong vòng 7 ngày, 20
giờ 42 phút và thực hiện tổng cộng 142 vòng quỹ đạo quanh Trái Đất.
Phạm Tuân cho biết: Chuyện mang bèo đi là do đội ngũ các nhà khoa học quyết
định, chứ ông không thể thích mang gì thì mang. Bèo hoa dâu dễ sinh sôi nảy nở,
hút khí cacbonic, sản sinh ra oxy. Trên vũ trụ lại có rất nhiều tia nhiễm xạ có tác
động lên con người, lên sinh vật tạo nên sự đột biến sinh học, và mang bèo hoa dâu
lên là để phục vụ mục đích nghiên cứu này.
Với thành tích này, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam
năm 1980 kèm theo Huân chương Hồ Chí Minh ở tuổi 33, cấp bậc Trung tá. Cùng
năm đó, ông cũng vinh dự trở thành một trong những người nước ngoài đầu tiên
được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, kèm theo Huân chương Lê nin. Như
vậy ông là người Việt Nam duy nhất ba lần được trao tặng danh hiệu Anh hùng
(Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động của Việt Nam,
Anh hùng Liên Xô).
Có những cuộc đời đã hóa thành dáng hình đất nước. Có những tuổi thanh xuân
đã rực cháy như những đóa hoa lửa cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do.
Những câu chuyện của họ, những kí ức của một thời chiến đấu oanh liệt chính là
di sản thiêng liêng nhất mà chúng ta được trao truyền
Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa” ra đời từ một mệnh lệnh của trái tim: đi ngược
thời gian để níu giữ lại những di sản vô giá ấy. Đây không chỉ là một dự án, mà là
một hành trình của lòng biết ơn, là sứ mệnh của thế hệ trẻ hôm nay lắng nghe lời
kể của thế hệ cha anh đi trước, ghi lại những câu chuyện chân thực nhất, để dòng
chảy lịch sử không chỉ nằm trên trang giấy mà còn thổn thức trong từng nhịp đập
con tim
Hồi ức của Phạm Tuân chính là cơ hội để thế hệ trẻ lắng nghe những lời chia sẻ
chân thực từ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Tuân, cũng như thấm
nhuần, thấu hiểu hơn những hy sinh cao cả của cha ông ta và thêm trân trọng nền
hòa bình, độc lập của dân tộc.



