Bài viết

Người đặt nền móng cho khoa học nước nhà

Hoàng Minh Hảo

Nghệ An26/08/2026phường Đồ Sơn (phường Đồ Sơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tài năng hiển lộ sớm, liên tục tự hoàn thiện và phát huy

Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 – 21/8/1986) được sinh và nuôi dưỡng trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Thiên Nhẫn, Nghệ An. Từ thiếu thời, “Cậu Bửu” đã nổi tiếng học giỏi từ lúc mới 7 tuổi sau khi đỗ cao trong cuộc thi chữ Hán, Việt văn và toán ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1922, Tạ Quang Bửu học trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm 1929, sau khi đỗ đầu tú tài Việt và cả tú tài Tây ban toán, ban triết, ông nhận học bổng sang Pháp du học.

Ở Paris, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà toán học lớn của nước Pháp, tham gia nhóm Nicolas Bourbaki. Trên cơ sở nghiên cứu từ những năm đó, sau này ông đã viết công trình “Cấu trúc Bourbaki” nổi tiếng (1961).

Năm 1930, ông thi đỗ vào trường Centrale Paris, theo học chương trình cử nhân khoa học ở đại học Sorbonne, học toán ở các đại học Paris và Bordeaux những năm 1930-1934. Năm 1934, Tạ Quang Bửu được trường Bordeaux trao đổi sang đại học Oxford (Anh). Tại đây ông học thêm vật lý lượng tử.

Anh sinh viên Tạ Quang Bửu nổi tiếng có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Vốn kiến văn uyên bác liên tục được tích lũy đã giúp ông trở thành nhà bách khoa thư.

Trở về nước năm 1935, Tạ Quang Bửu không “ra làm quan” mà đi dạy toán và tiếng Anh tại trường Phú Xuân, trường Providence (Thiên Hựu) ở Huế và tranh thủ tự học thêm. Ông nghiên cứu thêm cơ học lượng tử và phương trình vi phân.

Cùng thời gian, ông theo học rồi trở thành tri kỷ với “Ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu đang bị Pháp an trí ở Huế và thường đến học chữ Hán để hiểu sâu văn hóa Việt Nam và phương Đông. Ở “Ngôi nhà Bến Ngự” - nay đã thành di tích, Tạ Quang Bửu dần tự đọc các tác phẩm của Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử và nhiều tác gia triết học phương Đông khác bắng nguyên văn Hán ngữ.

Giáo sư Tạ Quang Bửu lúc ra Hà Nội học trường Bưởi năm 1926.

Tạ Quang Bửu học rất nhiều nhưng chỉ có duy nhất một bằng cử nhân toán học. Đó là cái “láu cá”, khôn ngoan đáng yêu của một học sinh nghèo mà ham học: “lách” thông lệ học xong, nhận bằng là về nước bằng cách học gần hết giáo trình lại xin học sang giáo trình khác để thâu tóm trong hành trang trước khi về nước càng nhiều kiến thức càng tốt.   

Tháng 7/1945, trước những chuyển biến mạnh mẽ của tình hình, Giáo sư Tạ Quang Bửu - với vai trò Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ, cùng với Luật sư Phan Anh đã tương kế tựu kế sáng lập trường Thanh niên tiền tuyến Huế để công khai tập hợp và rèn luyện thanh niên học sinh, yêu nước ở Huế.

Tạ Quang Bửu Huynh sau khi dự trại huấn luyện Hướng đạo sinh ở Anh năm 1938. (Ảnh tư liệu)

Dưới sự lãnh đạo của Huynh trưởng Tạ Quang Bửu, hàng ngày, các học viên Thanh niên tiền tuyến Huế đội ngũ chỉnh tề, hát vang những bài ca khúc đầy khí thế Tiếng gọi sinh viên, Lên đàng… trên đường đi dã ngoại ở núi Ngự Bình, Nam Giao để tập quân sự, học cưỡi ngựa ở Sở Canh nông, học bơi, học về vũ khí và cả các nghề cơ khí...

Dưới sự dẫn dắt của vị Huynh trưởng nhiều uy tín, Trường thanh niên tiền tuyến Huế được Việt Minh hóa nhanh chóng, hăng hái chuẩn bị lực lượng cho thời cơ giành độc lập dân tộc đang đến gần.

Ngày 17/8/2013, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ban liên lạc Cựu học sinh Trường Thanh niên tiền tuyến Huế đã tổ chức gặp mặt và công bố Quyết định công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa cho hai vị đồng sáng lập Trường là Luật sư Phan Anh và Giáo sư Tạ Quang Bửu đồng thời ghi nhận vai trò và tôn vinh những cống hiến, đóng góp của những học sinh Trường Thanh niên tiền tuyến Huế nói chung.

 Sau Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Tạ Quang Bửu ra Hà Nội, đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao từ tháng 9/1945 đến tháng 1/1946. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm cả vị trí Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, Giáo sư Tạ Quang Bửu giúp Người tiếp các nhà ngoại giao Anh, Mỹ và soạn thảo các bức công hàm, điện thư gửi J. Stalin, H. Truman, J. Byrnes...

Giáo sư Tạ Quang Bửu ký Hiệp định Geneva năm 1954 (Ảnh tư liệu)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn