Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam được phong hàm Đô đốc.

Người đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam được phong hàm Đô đốc.

Bắc Ninh13/08/2026xã Lạc Phượng (Xã Lạc Phượng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giáp Văn Cương sinh ngày 13 tháng 9 năm 1921 tại thôn An Thuẫn, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Bảo Đài, tỉnh Bắc Ninh).[1] Mặc dù sống trong một gia đình có điền sản (nhà có hàng trăm mẫu ruộng, giàu có nổi tiếng cả một vùng), nhưng rất giàu lòng yêu nước và có tinh thần cách mạng. Mặc dù là "cậu ấm" con nhà gia thế, được cưng chiều, chăm chút và hướng đi theo con đường học hành, khoa cử (được gia đình gửi xuống Hà Nội theo học trường Tây và từng là học sinh trường Bưởi) nhưng ông đã quyết chí đi theo con đường cách mạng. Từ "cậu ấm" con nhà giàu, bằng lòng yêu nước và có tài năng quân sự, ông đã trở thành một vị tướng nổi tiếng từng giữ nhiều trọng trách cao trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1942, Giáp Văn Cương thoát ly gia đình với mục đích tìm đường đến với cách mạng. Thông qua một người quen biết giới thiệu, ông đã được nhận vào làm việc trong ngành hỏa xa với chức ký ga Tam Quan (sau đó trở thành Trưởng ga Quy Nhơn - Diêu Trì, tỉnh Bình Định).[1] Chính tại đây, Ông gặp được người con gái Hà Thành con nhà gia giáo, để rồi chuyện tình nảy nở và kết thúc bằng một cuộc hôn nhân đẹp. Người con gái đó chính là bà Nguyễn Thị Chắt - vợ của ông sau này.

Hoạt động trong kháng chiến chống Pháp

Năm 1945, ông bí mật gia nhập Việt Minh. Tháng 8 năm 1945 ông được cử làm Ủy viên quân sự trong Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Bình Định, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương.

Từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 9 năm 1946, là Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định phụ trách Công binh xưởng Hoàng Hoa Thám.

Từ năm 1946 đến 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ:

  • Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 Ba Tơ, Trung đoàn 108 Liên khu 5 (10/1946 – 1947);

  • Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 96 Liên khu 5 (1947 – 1949);

  • Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108, Ủy viên Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk (1949 – 1953);

  • Phó Tham mưu trưởng Liên khu 5 kiêm Chỉ huy trưởng Quân cảng Quy Nhơn (12/1953 – 1954), tham gia đánh trận Đăk pơ (tháng 6 năm 1954);

  • Tham gia kháng chiến chống Mỹ

    Ông tập kết ra Bắc và giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324, Quân khu 4 (1955).

    Năm 1963, ông được cử vào miền Nam chiến đấu và giữ các chức vụ:

    • Đặc phái viên Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tại mặt trận Quảng – Đà (1963 – 1964).

  • Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 (Sao Vàng), Quân khu 5 (1964 – 1967).

  • Thường vụ Đặc khu ủy, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Quảng – Đà (1968 – 1970).

  • Tháng 10 năm 1970, ông giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 4, kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị (B5).

    Năm 1974, ông được thăng hàm Thiếu tướng, giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1974-1975).

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn