Người đề xuất Pháp lệnh Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
Sau chiến tranh, Lê Đức Anh trở thành Đại tướng, Chủ tịch nước, người có nhiều đóng góp trong quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, đồng thời là người đề xuất và ký Pháp lệnh phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Sau ngày đất nước thống nhất, Lê Đức Anh tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách: Tư lệnh Quân khu 9 từ tháng 5 năm 1976, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 từ tháng 6 năm 1978, kiêm Chỉ huy trưởng Cơ quan Tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam. Ông đã tích cực chỉ đạo Quân khu 7 giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tham gia chỉ huy lực lượng của ta đánh tan quân Pôn Pốt xâm lược trên tuyến biên giới Tây Nam. Năm 1981, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Ông được thăng quân hàm Thượng tướng năm 1980 và Đại tướng năm 1984, được bầu vào Bộ Chính trị năm 1982, rồi giữ chức Tổng Tham mưu trưởng năm 1986.
Trong giai đoạn sau này, khi trở thành Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh được ghi nhận có nhiều đóng góp cho quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, hai mối quan hệ ngoại giao quan trọng đối với Việt Nam trong giai đoạn Đổi mới. Ông cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam gia nhập ASEAN vào ngày 28 tháng 7 năm 1995, mở ra một chương mới trong quan hệ đối ngoại của đất nước với khu vực Đông Nam Á thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.
Một trong những đóng góp mang tính nhân văn của ông trong giai đoạn này là việc đề xuất và ký Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng", văn bản pháp lý đã chính thức hóa việc tôn vinh, tri ân hàng vạn người mẹ Việt Nam đã hiến dâng chồng, con cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó có những trường hợp như mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam. Đại tướng Lê Đức Anh qua đời năm 2019, để lại một di sản trong lĩnh vực quân sự, đối ngoại và chính sách xã hội của đất nước.



