NGƯỜI DỆT HUYỀN THOẠI BÊN DÒNG VÀM CỎ
Dòng Vàm Cỏ Đông những chiều cuối năm vẫn lững lờ trôi, mang theo phù sa bồi đắp cho những rặng dừa nước xanh rì. Bên bến sông ấy, có một người già thường ngồi lặng yên, đôi mắt xa xăm như đang tìm lại hình bóng của chính mình từ nửa thế kỷ trước. Đó là ông Tư Bé – người lính giao liên năm xưa, một "nhân chứng sống" mang trong mình cả một thời hoa lửa thâm trầm.
Bài viết: GIAI ĐIỆU XANH DƯỚI LÒNG ĐẤT LỬA
Dòng Vàm Cỏ Đông những chiều cuối năm vẫn lững lờ trôi, mang theo phù sa bồi đắp cho những rặng dừa nước xanh rì. Bên bến sông ấy, có một người già thường ngồi lặng yên, đôi mắt xa xăm như đang tìm lại hình bóng của chính mình từ nửa thế kỷ trước. Đó là ông Tư Bé – người lính giao liên năm xưa, một "nhân chứng sống" mang trong mình cả một thời hoa lửa thâm trầm.
Mỗi lần nhìn ra dòng nước đỏ nặng phù sa, ông lại khẽ khàng ngâm lại những câu thơ của Hoài Vũ mà thế hệ ông ai cũng thuộc nằm lòng:
"Ở đây đức chẳng thành dòng
Mà thành dòng nước xanh trong đôi bờ
Vàm Cỏ Đông đây, ta quyết giữ cho bằng được
Dù cho giặc Mỹ có dùng bom đạn tấn công..."
Lịch sử đời ông gắn liền với những nhịp thở của dòng sông này. Năm 1968, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân bùng nổ khắp miền Nam, chàng thiếu niên Nguyễn Văn Bé khi ấy mới vừa tròn mười sáu đã lén gia đình trốn đi theo cách mạng. Vóc dáng nhỏ thốn nhưng đôi chân trần thoăn thoắt, ông trở thành "tai mắt" của đơn vị, dẫn đường cho những đoàn quân tiến sâu vào lòng địch giữa vùng lõi chiến trường Long An - Tây Ninh.
Ông kể, những năm 1969 - 1970 là giai đoạn khốc liệt nhất khi địch thực hiện chiến dịch "tìm và diệt" điên cuồng. Đêm tối như hũ nút, chỉ cần một tiếng lá khô gãy cũng đủ làm tim đập loạn nhịp vì sợ lộ vị trí. Nhưng trong lồng ngực trẻ trai ấy, nỗi sợ hãi luôn bị lấn át bởi khát khao đưa anh em sang sông an toàn. Chi tiết khiến người ta thắt lòng nhất chính là tiếng sáo dưới hầm chữ L.
Giữa những trận càn quét mà mặt đất bên trên rung chuyển bởi đại bác, thì dưới lòng đất sâu thẳm, ông Tư vẫn giữ bên mình chiếc sáo trúc tự gọt. Những lúc ngơi nghỉ, tiếng sáo ấy lại cất lên – lúc dìu dặt như lời ru của mẹ, lúc hào sảng như tiếng gọi quê hương.
"Cháu biết không," ông Tư khẽ vuốt vết sẹo dài trên tay, "tiếng sáo lúc đó là liều thuốc chữa lành. Nó nhắc anh em mình rằng, dù đang ở dưới hầm tối, chúng ta vẫn đang sống cho một ngày hòa bình rực nắng."
Đến mùa xuân năm 1975, khi đại thắng mùa Xuân đang đến gần, ông lại sát cánh cùng đồng đội trong những trận đánh cuối cùng giải phóng quê hương. Chiến tranh đi qua, ông trở về với ruộng đồng mang theo những mảnh đạn còn găm lại trong da thịt. Những ngày lễ lớn, ông lại mang bộ quân phục cũ, đứng nhìn dòng sông xưa mà bùi ngùi nhớ về những người đồng đội đã nằm lại dưới đáy sông xanh.
Qua lời kể của ông Tư Bé, lịch sử không còn là những con số thống kê khô khốc. Nó hiện lên bằng xương bằng thịt, bằng hơi ấm của những cái nắm tay dưới hầm tối, và bằng tiếng sáo bất tử của một thời thanh xuân dâng hiến. Ông chính là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại bình yên, nhắc nhở chúng ta rằng: Hòa bình hôm nay được thắp sáng từ chính những đốm lửa nhỏ nhoi nhưng kiên cường như thế.



