NGƯỜI ĐI QUA HẠ LÀO
NGƯỜI ĐI QUA HẠ LÀO
An Thượng, Yên Thế, Bắc Giang – vùng đất trung du với những đồi keo, đồi chè nối nhau trập trùng. Ở đó, Nguyễn Văn Sơn lớn lên trong nhịp sống giản dị của miền quê còn nhiều gian khó. Tuổi thơ của anh gắn với con đường đất đỏ, với những buổi theo cha lên nương, theo mẹ ra chợ sớm, với tiếng gió thổi qua đồi mỗi chiều tà.
Sơn là người trầm tính, ít nói nhưng sống rất trách nhiệm. Việc gì đã nhận thì làm đến cùng. Khi chiến tranh lan rộng, thanh niên trong làng lần lượt lên đường, Sơn cũng không đứng ngoài. Anh hiểu rằng, để quê hương được bình yên, sẽ có những người phải rời làng, rời nhà, đi đến những nơi rất xa.
Ngày 29 tháng 4 năm 1970, Nguyễn Văn Sơn nhập ngũ, trở thành chiến sĩ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Giang. Từ người con của vùng đồi Yên Thế, anh bước vào môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm ngặt và những tháng ngày huấn luyện gian khổ. Những buổi hành quân dã ngoại, những đêm tập kích trong rừng, những giờ đào công sự dưới nắng gắt – tất cả tôi luyện anh thành người lính vững vàng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở bất cứ đâu Tổ quốc cần.
Không lâu sau, đơn vị của Sơn được lệnh làm nhiệm vụ quốc tế tại Hạ Lào. Đó là vùng rừng núi hiểm trở, xa xôi, nơi những con đường mòn len lỏi giữa đại ngàn, nơi bom đạn và bệnh tật luôn rình rập người lính. Đối với Sơn, đây là chuyến đi xa nhất trong cuộc đời, vượt ra ngoài ranh giới của quê hương, nhưng vẫn nằm trong trách nhiệm của người lính Việt Nam trong thời chiến.
Ở Hạ Lào, cuộc sống chiến đấu diễn ra âm thầm nhưng vô cùng khắc nghiệt. Địa hình phức tạp, rừng rậm dày đặc, thời tiết thất thường. Ban ngày hành quân, ban đêm phục kích, cảnh giới. Lương thực thiếu thốn, nước uống phải lọc từ suối rừng. Nhiều lúc, người lính phải đối mặt cùng lúc với bom đạn, sốt rét và đói khát.
Sơn là người bền bỉ. Trong đội hình hành quân, anh luôn đi đúng vị trí, giữ vững đội hình. Khi dựng lán, đào hầm, anh làm không nề hà. Trong những lúc hiếm hoi được nghỉ ngơi, anh thường ngồi lặng lẽ, nhìn về phía xa, nơi quê nhà Yên Thế nằm ngoài tầm mắt nhưng chưa bao giờ rời khỏi tâm trí.
Năm 1971, trong một nhiệm vụ tại Hạ Lào, đơn vị của Sơn gặp tình huống chiến đấu ác liệt. Cuộc đụng độ diễn ra bất ngờ giữa rừng sâu. Tiếng súng vang lên dồn dập, không gian yên tĩnh của núi rừng bị xé toạc. Sơn cùng đồng đội nhanh chóng vào vị trí, vừa chiến đấu vừa bảo vệ đội hình.
Giữa làn đạn và khói lửa, Sơn bị trúng đạn. Đồng đội cố gắng tiếp cận, nhưng tình hình quá ác liệt. Anh hi sinh nơi đất bạn Lào, giữa rừng núi Hạ Lào, khi nhiệm vụ vẫn còn dang dở.
Do điều kiện chiến trường, đồng đội mai táng anh tại Lào, nơi anh ngã xuống. Ngôi mộ đơn sơ giữa rừng sâu, không bia đá khắc tên, chỉ có ký hiệu để sau này còn nhớ. Đó là nỗi day dứt của những người ở lại – rằng có những đồng đội đã nằm xuống nơi đất khách, xa quê hương hàng nghìn cây số.
Tin anh hi sinh về đến An Thượng – Yên Thế – Bắc Giang trong lặng lẽ. Gia đình không được đón anh về, không biết chính xác nơi anh nằm, chỉ biết rằng con em mình đã hi sinh khi làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Nỗi đau ấy lặng thầm, bền bỉ, như chính tính cách của người lính năm xưa.
Chiến tranh qua đi, biên giới yên bình, tình hữu nghị Việt – Lào ngày càng bền chặt. Trên những cánh rừng Hạ Lào hôm nay, cây cối xanh trở lại, đường mòn xưa dần biến mất. Nhưng dưới lớp đất ấy vẫn còn những người lính Việt Nam như Nguyễn Văn Sơn – những người đã đi rất xa để bảo vệ Tổ quốc từ tuyến ngoài.
Anh không trở về quê hương, nhưng sự hi sinh của anh đã trở thành một phần của lịch sử. Từ đồi núi Yên Thế đến rừng sâu Hạ Lào, tên anh nối liền hai miền đất, hai dân tộc, bằng máu và lòng trung thành.
Nguyễn Văn Sơn – người con của An Thượng, Yên Thế, Bắc Giang – đã đi qua Hạ Lào và ở lại nơi ấy, để đất nước được bình yên, để tình nghĩa Việt – Lào mãi xanh như rừng núi đại ngàn.


