NGƯỜI ĐI QUA NHIỀU TRẬN TUYẾN
Tôi đến thăm Đại tá Đoàn Quang Vinh trong tâm thế của một người hàng xóm cũ. Bởi vậy, cuộc gặp gỡ của chúng tôi cũng thân tình, cởi mở hơn bất cứ một cuộc hẹn phỏng vấn nhân vật nào mà tôi từng thực hiện. Sau những lời thăm hỏi, ông Vinh và vợ đưa tôi đi thăm một lượt quanh nhà. Ngắm nhìn khuôn viên nhỏ với vườn rau xanh mướt, đàn gà thong thả dạo chơi trong khu chăn nuôi sạch sẽ, thoáng mát khiến tôi không thể hình dung được nơi đây đang nằm giữa trung tâm đô thị của phường Yên Bái. Trong ngôi
Đại tá Đoàn Quang Vinh sinh ra và lớn lên ở Báo Đáp, Trấn Yên (Yên Bái cũ). Gia đình thuần nông, bố mẹ có tới 7 người con nhưng chỉ mình ông là con trai, lại là con cả. Bởi vậy ông không thuộc diện bắt buộc phải xung quân đi lính. Nhưng giữa lúc đất nước còn chiến tranh, cả nước đâu đâu cũng sục sôi ý chí, đồng lòng hướng về miền Nam ruột thịt nên ông không thể ngồi yên. Viết đơn tình nguyện nhập ngũ khi đã hoàn thành chương trình Trung học phố thông, tháng 8/1973 ông lên đường nhập ngũ, được tập kết và huấn luyện tại Phú Bình, tỉnh Bắc Thái (cũ), đến tháng 3/1974 bắt đầu vào Nam chiến đấu. Đường hành quân dọc Trường Sơn gian khổ,một vài lời cũng khó kể hết, nhưng tinh thần, khí thế chiến đấu của bộ đội cũng không vì thế mà giảm sút. Càng vào gần đến miền Nam, khí thế ấy càng thêm sôi sục. Vào đến ngã ba 90, ông Vinh được phân vào Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320A, biên chế làm làm lính thông tin rồi lần lượt tham gia chiến đấu trong những chiến dịch lớn như Chiến dịch Tây Nguyên,Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 320A được giao đảm nhiệm một hướng quan trọng ở phía Bắc của chiến dịch, với nhiệm vụ: Cắt đường số 14 đoạn từ Chư Xê đến Buôn Hồ, sẵn sàng ngăn chặn địch từ Pleiku, Kon Tum đi giải tỏa cho Buôn Ma Thuột, đồng thời sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không xuống Phước An. Sau một thời gian dài chuẩn bị, khi thời cơ chín muồi, đêm ngày 3, rạng sáng 4/3/1975, chiến dịch chính thức mở màn. Trong chiến dịch này, cả Sư đoàn, trong đó có Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48 của ông đã góp nên nhiều chiến thắng vang dội, giải phóng nhiều địa bàn trọng điểm như: Chư Xê, Thuần Mẫn, Buôn Hồ, Phước An, Cheo Reo, Củng Sơn, giải phóng thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, góp phần quan trọng vào sự toàn thắng của Chiến dịch Tây Nguyên.
Hoàn thành nhiệm vụ ở Tây Nguyên, Sư đoàn 320A cùng các sư đoàn chủ lực của Quân đoàn 3 tiến về Củ Chi, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 1/4/1975, sau khi giải phóng thị xã Tuy Hòa, xóa xổ Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, trong khi Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà hân hoan mừng ngày giải phóng, đơn vị nhận được lệnh của cấp trên, ngược trở lại đường 7 (quốc lộ 25 ngày nay), rồi theo đường 13, 14 tức tốc hành quân vào tham gia Chiến dịch Giải phóng Sài Gòn - Gia Định (sau này được đổi tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh). Đường hành quân có lúc phải vòng qua nước bạn rồi mới trở lại địa phận của Việt Nam, song dù là người Việt Nam hay người dân trên đất nước bạn cũng đều bày tỏ niềm hân hoan, phấn khởi và đặt niềm tin rất lớn vào các anh. Ông Vinh còn nhớ khi vào đến Bến Dược, Hố Bò, Hố Nai, Củ Chi, nơi Sư đoàn 320A đặt hậu cứ, cách căn cứ Đồng Dù khoảng 18- 20km. Gần một tuần đóng quân tại đây để chuẩn bị tác chiến, các ông được bà con nồng nhiệt chào đón, thân tình hỏi han. Nhiều người thấy bộ đội như thấy con mình thì không kìm được xúc động, lo lắng ngày mai các con ra trận. Nhìn các bà, các mế, bộ đội ta cũng như thấy mẹ ở quê nhà, nên ai cũng tỏ rõ tinh thần lạc quan, tin tưởng... hứa với các bà, các mế cứ yên tâm, chúng con vào lần này nhất định sẽ giải phóng được Sài Gòn.
Bước vào chiến dịch, Sư đoàn 320A nhận lệnh phải bằng mọi giá đập tan căn cứ Đồng Dù (địch gọi là căn cứ Củ Chi). Đồng Dù là một trong những căn cứ vững chắc của địch,là một căn cứ trọng yếu bảo vệ Tây BắcSài Gòn, nằm trên trục đường số 22, gần đường số 1 đi Tây Ninh, cách dinh Độc Lập 30km về phía Tây Bắc. Căn cứ quân sự này do Mỹ xây dựng rất vững chắc, vốn là hang ổ của Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” quân viễn chinh Mỹ. Xung quanh căn cứ là vùng trắng bằng phẳng trống trải; địa hình rất trắc trở, được quân địch bao vây bởi 13 lớp hàng rào kẽm gai với lô cốt kiên cố, hầm hào, có tường đất cao 2- 3 mét bao quanh. Đây cũng là một trong các phòng tuyến rất quan trọng của địch, nhằm bảo vệ Sài Gòn- Gia Định. Để có thể tiến vào nội đô, giải phóng Sài Gòn, không còn cách nào khác là phải chọc thủng “cánh cửa thép” này.
Từ nơi tập kết, Trung đoàn 48 được lệnh xuất phát khoảng 1 giờ sáng ngày 29/4. Vào đến trận địa, các ông bắt tay ngay vào việc đào hầm, công sự, chuẩn bị cho trận đánh lớn. Khoảng 5 giờ sáng, những tiếng súng, đạn pháo, mìn phá rào của quân ta nổ rộ cả vùng phía trong hàng rào địch. Dưới lằn đại bác, xe tăng dẫn đầu để bộ binh tiến lên trên các hướng, dùng mìn định hướng và bộc phá liên tục mở các lớp hàng rào, riêng Tiểu đoàn 3 phá 13 hàng rào (hàng rào đơn, hàng rào mái nhà, hàng rào cũi lợn, tường đất)... Pháo binh ta cấp tập dội bão lửa xuống Đồng Dù. Xe tăng, bộ binh tiến công dũng mãnh. Trên hướng cửa mở, địch tập trung hỏa lực chống trả điên cuồng.Nhiều chiến sĩ ngã xuống lại đứng lên, lớp trước ngã xuống thì lớp sau tiến lên, quyết tâm phá bằng được những hàng rào phòng thủ để mở đường cho xe tăng tiến vào trung tâm chỉ huy của địch. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt, quân địch tử chiến nhiều thì quân ta cũng hy sinh không ít. Tổ đài thông tin 2W của ông Vinh được giao đi cùng Đại đội 11. Chiếc đài 2W- vũ khí chiến đấu của tổ thông tin nặng 15kg do Đài trưởng Lim (người Bắc Ninh) phụ trách, còn ông - Báo vụ viên thì đảm nhiệm ắc quy và các thiết bị, máy móc còn lại. Khi hàng rào thứ 5 được phá thì Đại đội trưởng Lim bị thương. Đưa chỉ huy của mình xuống hầm an toàn, ông Vinh lập tức quay lại, gọi về sở chỉ huy xin tiếp viện rồi nhanh chóng chất tất cả lên vai đồng bộ máy thông tin và tiếp tục tiến lên phía trước, kịp thời truyền tin, truyền mệnh lệnh cho cấp trên và đồng đội. Ông Vinh bị thương ngay trước lúc cửa được mở thông. Những mảnh đạn cối găm vào lỗ thoáng trên mũ, găm thẳng lên người ông. Bất chấp những vết thương, ông Vinh vẫn muốn được tiếp tục ở lại chiến đấu, nhưng vì thấy ông bị thương nặng nên đồng đội đưa ông về hậu cứ. Phải lùi về phía sau, điều duy nhất khiến ông băn khoan và hối tiếc chính là không được cùng đồng đội đánh vào nội đô, giải phóng Sài Gòn. Nằm điều trị ở Tiểu đoàn 24 Quân y của sư đoàn nhưng tâm can ông vẫn để lại nơi chiến trường. Qua y tá và những lời truyền tin ngắn ngủi, chắp vá của đồng đội bị thương liên tục đưa về từ trận địa, ông Vinh biết được diễn biến của trận chiến. Giữa buổi trưa hôm ấy, tin quân ta đã tiêu diệt được căn cứ địch, mở được cánh cửa thép vững chắc Tây Bắc - Sài Gòn, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 25 ngụy bị bắt sống đã khiến tất cả thương binh và đội ngũ y, bác sĩ mừng vui khôn tả. Và rồi cuối cùng, tất cả như vỡ òa khi nhận tin quân ta toàn thắng chỉ sau đúng một ngày, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chiến tranh đã thực sự kết thúc. Ngay giây phút ấy, những người lính thương binh các ông như được tiếp thêm sức mạnh, quên hết cơn đau, và trong số đó, không ít chiến sĩ đã không thể kìm lòng mà bật lên tiếng reo: “Mẹ ơi, con sắp về rồi!”.
Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, từ sâu trong trái tim mỗi người lính, giờ là lúc ai cũng hướng về quê nhà, mong được đoàn tụ với gia đình, đồng đội ông hầu hết đều giải ngũ. Nhưng sau gần 1 tháng nằm viện điều trị trở về đơn vị, vì nằm trong số ít những chiến sĩ đã hoàn thành chương trình phổ thông nên ông Vinh được cấp trên chọn và điều đi học ở Trường Sĩ quan Lục quân 1 ở Sơn Tây, Hà Nội. Tháng 2/1979, phía Bắc xảy ra chiến tranh biên giới, toàn bộ học viên được điều động lên đường. Được giao làm Trung đội trưởng, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 183 Hải Hưng của Quân khu 1 khi mới chỉ ở cấp bậc quân hàm Trung sĩ, ông Vinh cùng với khung của Nhà trường trực tiếp xuống tận tỉnh Hải Hưng cũ tuyển chọn quân. Những quân nhân khi ấy có người đã giữ vị trí Chủ nhiệm Hợp tác xã, có người làm đội trưởng sản xuất..., nhưng tất cả lại một lần nữa được huy động nhập ngũ, hành quân lên Cao Bằng chiến đấu. Từ ngày 2 đến ngày 4/3, Trung đoàn 183 tham gia đánh trận đầu tiên ở phía Bắc cầu Tài Hồ Sìn, bấy giờ thuộc xã Bạch Đằng, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Thời điểm này, các lực lượng của quân đội Việt Nam cũng đồng thời từ khắp mọi miền được điều động gấp về khu vực biên giới phía Bắc, sẵn sàng phản kích. Bởi vậy, ngày 5/3/1979 Trung Quốc tuyên bố rút quân, tuy nhiên chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Khi địch rút quân, chúng lui đến đâu, ta bám sát thắt lưng địch tới đó. Đơn vị của ông theo đường 3, truy đuổi tới Trùng Khánh, Cao Bằng. Dù bỏ chạy nhưng đi tới đâu chúng tàn phá tài sản của dân ta tới đó. Dọc đường rút quân của chúng, xác trâu, bò của đồng bào bị chúng bắn hạ đầy đường; những cây cột điện bị chúng ốp bộc phá cho đổ gục ngổn ngang...
Mặc dù đã tuyên bố chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam, song Trung Quốc vẫn luôn lăm le ý đồ xâm lược sâu vào nội địa nước ta. Cuối tháng 3/1984, Trung Quốc một lần nữa đem quân đánh chiếm Việt Nam, chiếm được một số điểm cao ở tỉnh biên giới Vị Xuyên - Yên Minh. Ông Vinh lại tiếp tục nhận nhiệm vụ lên đường đánh giặc. Lần này, ông vinh dự được cùng với Sư đoàn phó Đào Trọng Lịch chỉ huy Trung đoàn 174 và một số đơn vị bạn tham gia chiến dịch MB-84, chiến đấu, tiến công lấy lại các điểm cao bị chiếm đóng. Trong chiến dịch này, 3 sư đoàn được huy động tham gia chiến đấu; Trung đoàn 174 được giao đảm nhiệm tiến côngbình độ 300- 400, điểm cao 233. Lúc đầu là tấn công, sau chuyển sang phòng ngự bởi địa thế hoàn toàn bất lợi. Địch chiếm giữ đỉnh đồi cao, quân ta ở dưới thấp. Khó khăn, gian khổ, hi sinh cũng rất lớn, song quân ta một lòng quyết tâm, bám trụ, kiên quyết giữ vững từng tấc đất của Tổ quốc.
Sau mỗi chiến dịch, mỗi lần tham gia tác chiến, hoàn thành nhiệm vụ, ông Vinh lại trở về nhận lệnh mới. Trong mỗi giai đoạn, ông được bổ nhiệm các chức danh khác nhau và giao những nhiệm vụ theo từng đơn vị khác nhau. Sau khi ở Cao Bằng trở về (tháng 7/1979), ông được lệnh trở về trường thực hiện nốt kỳ thi còn dang dở và ra trường, được điều về Quân khu 2 công tác, tham gia nhiều khóa đào tạo vàtrải qua nhiều vị trí công tác ở nhiều đơn vị, địa phương khác nhau thuộc Quân khu 2. Năm 2003, được cấp trên cân nhắc, tạo điều kiện cho về gần với gia đình hơn, ông được điều về làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu Trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Lào Cai. Gọi là gần nhà, nhưng thực tế, khoảng cách giữa đơn vị với gia đình vẫn là hàng trăm kilomet.
Nhắc tới gia đình, ông Vinh kể cho tôi nghe bằng giọng nói hài hước nhưng lại chứa đựng biết bao tâm tư và cảm xúc nghẹn ngào. Ông bảo, trước khi lên đường chiến đấu ở biên giới phía Bắc, ông được đơn vị cho về thăm gia đình. Bởi sau 30/4/1975, đất nước đã hòa bình rồi mà trông ngóng mãi không thấy con về, biết con còn gắn bó lâu dài với quân ngũ nên bố mẹ đã tranh thủ dịp này mà cưới vợ cho ông. Người ông được bố mẹ hỏi cưới cho chính là cô gái hàng xóm ông đã thầm thương trước ngày nhập ngũ mà chưa dám ngỏ lời. Đám cưới nhanh chóng được tổ chức. Đoàn đón dâu chẳng phải quá đông người, vậy mà khi ông “mờ” đại diện nhà trai đã bước vào cửa nhà gái, người cuối cùng trong đoàn vẫn chưa ra khỏi nhà trai. Đến khi rước dâu về, cô dâu về đến đầu ngõ mà người cuối cùng trong đoàn còn chưa ra khỏi cửa nhà gái. Sau 20 ngày phép ngắn ngủi bên người vợ mới cưới, ông lại vội vã lên đường nhận nhiệm vụ mới tại Trung đoàn 121. Kể đến đây, ông Vinh khẽ quay đầu nhìn sang phía người vợ dịu hiền, tảo tần của mình rồi bảo: “Chuyện ở nhà thế nào chỉ có vợ chú là người tỏ tường nhất, bà nó nhỉ!”. Nghe chồng nhắc đến mình, bà Khoa dù cả buổi bận rộn chăm cháu nhưng dường như vẫn dõi theo câu chuyện của ông nên nhanh nhẹn ngồi xuống tiếp lời. Bà nhẹ nhàng kể, ngày mới về làm dâu, bố chồng hay đau yếu, chỉ mình mẹ đảm đương, cáng đáng vừa việc hợp tác lẫn việc nhà. Được 2 năm thì bố mất, thương mẹ, lại muốn để chồng yên tâm chiến đấu, công tác nên bà Khoa luôn tự nhủ trong lòng là phải cố gắng hết sức mình. Trong nhà có 6 cô em gái nhưng em cô lớn nhất đã đi lấy chồng, em bé nhất mới tròn 6 tuổi, vừa dứt hơi mẹ thì lại bén hơi chị dâu, tối nào cũng đòi vào ngủ cùng. Khi ấy, nghĩ mình phải thay chồng làm tròn trách nhiệm người con, người anh cả trong nhà, và cả người cha với đứa con gái đầu lòng nên bà biết mình phải cố gắng gấp năm, gấp mười những người phụ nữ khác trong làng. Không kể đến những công việc khác, chỉ riêng chuyện cấy lúa thôi, bà càng ra sức làm thì thóc lúa thu hoạch được càng nhiều, sản phẩm nộp khoán cho hợp tác xã cũng theo đó mà ngày càng tăng và số ruộng được giao cũng ngày một nhiều thêm. Có những vụ, được giao tới hơn mẫu ruộng, một mình không làm xuể, bà phải tìm cách đổi công cấy lấy công bừa, rồi nhờ người gánh phân, không kịp quải một lúc thì ủ vào đấy rồi làm dần, miễn sao vẫn kịp thời vụ để không ảnh hưởng đến năng suất. Mẹ chồng thương con dâu vất vả, bảo đem trả bớt ruộng cho hợp tác nhưng bà vẫn cố bởi lo các em không đủ no. Chiến tranh biên giới kết thúc, ông Vinh vẫn biền biệt với những nhiệm vụ của mình. Mỗi năm mẹ con, bà cháu chỉ được đoàn tụ với con, với chồng, với cha vỏn vẹn có 15- 20 ngày. Bốn đứa con lần lượt chào đời sau mỗi kỳ nghỉ phép ngắn ngủi của ông. Ngày bố chồng còn sống, mỗi lần bố ốm nặng hay ngay cả khi bố sắp rời cõi tạm, những cú điện đánh đi cho ông đều bặt tăm không có hồi âm. Cho nên cả bốn lần sinh nở, bà đều tự mình vượt cạn. Mỗi kỳ nghỉ phép tranh thủ về thăm nhà, ông hào hứng mua quần áo mới cho con, nhưng khi về đến nơi, đồ mua cho đứa lớn thì đứa thứ hai mới xỏ vừa, áo mua cho con thứ hai thì con thứ ba mặc còn chật...
Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị gián đoạn bởi một cuộc điện thoại. Nhìn vào màn hình, ông Vinh ra hiệu cho tôi rồi vội vàng bắt máy. Hóa ra đó là cuộc gọi từ một người đồng đội cũ ở Lạng Sơn. Tôi không biết đầu dây bên kia đồng đội của ông nói gì, nhưng nhìn nét cười rạng rỡ trên gương mặt ông, thấy ông nói chuyện hào hứng, tíu tít với bạn mà tôi thấy vui lây, cũng khiến tôi cảm nhận được tình cảm chân tình, ấm nồng giữa những người đồng đội đã từng một thời cùng vào sinh ra tử, cùng kiên cường chiến đấu trên chiến trường; rồi lại cùng nhau học tập, trau dồi, rèn luyện để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho đất nước. Giờ đây, khi đã vào cái tuổi “thất thập”, ngoài việc hỏi thăm, dặn dò nhau giữ gìn sức khoẻ thì họ lại nhắc nhở, động viên nhau giữ vững tinh thần, tiếp tục cống hiến cho quê hương. 37 năm mải miết với sự ngiệp của nhà binh, tính ra ông ở nhà với vợ con và gia đình được nhiều lắm cũng chỉ hơn 600 ngày. Khi ông báo tin rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ với đất nước, với nhân dân, bà Khoa mừng vui khôn xiết, tưởng rằng đã đến lúc có chồng ở bên bầu bạn, chung vai gánh vácviệc gia đình. Nhưng rồi năm 2009, dù còn chưa cầm sổ hưu trong tay, ông Vinh lại được Hội Cựu chiến binh tỉnh mời vào tham gia công tác tại Hội, nhận nhiệm vụ Chánh Văn phòng Hội, rồi lần lượt làm Phó Chủ tịch Hội, Chủ tịch Hội trong 02 nhiệm kỳ. Thời gian làm công tác Hội, điều ông đau đáu, trăn trở nhất là làm sao tập hợp, quy tụ được anh em cựu chiến binh, nhất là những thương binh, bệnh binh đã cống hiến, hi sinh cả thanh xuân, tuổi trẻ cho hòa bình dân tộc, nay trở về đời thường với thân hình thiếu khuyết, từ đó nắm bắt, tìm hiểu và tìm cách giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Bởi thế, suốt mười mấy năm công tác, ngoài những phong trào riêng mang tính đặc thù của Hội, ông Vinh tranh thủ mọi thời cơ, tận dụng triệt để thời gian, tâm sức để thực hiện những điều mình ấp ủ. Những năm này, phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát ở tỉnh tuy còn chưa được rầm rộ như nhiều địa phương ở miền xuôi nhưng cũng được tỉnh quan tâm. Đặt niềm tin tưởng với các cựu chiến binh, tỉnh đã giao nhiệm vụ xóa nhà tạm cho Hội. Nhận nhiệm vụ, một mặt ông cùng Ban Chấp hành Hội lập tức chụm đầu bàn bạc, xây dựng kế hoạch cụ thể từ cấp tỉnh đến cơ sở Hội, rà soát, nắm lại toàn bộ những hộ gia đình cựu chiến binh thuộc diện khó khăn, đặc biệt là những gia đình có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh; huy động tối đa khả năng lực lượng CCB ở cơ sở hỗ trợ ngày công “đồng đội”, phân bổ nguồn kinh phí của các nhà hảo tâm, đồng thời vận động các gia đình mạnh dạn xóa nhà tạm, nhà dột nát. Với cách làm công tâm đầy nghĩa tình đồng đội, được cấp uỷ, chính quyền, và nhân dân đồng lòng ủng hộ. Ngày khởi công hay khánh thành, ông đều đích thân xuống thăm hỏi, động viên và tặng quà cho từng hộ... Nhờ vậy mà hàng năm, Hội CCB đều hỗ trợ được hàng trăm hộ làm nhà mới.
Hỗ trợ, giúp hội viên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống luôn là việc khiến ông và các lãnh đạo Hội đặt nhiều tâm tư và quyết tâm nhất. Một trong những hướng giải quyết hiệu quả nhất mà ông nghĩ đến không chỉ là giúp họ có chỗ ở ổn định, vay vốn làm ăn mà điều quan trọng là phải tạo cho họ cơ hội, động lực để phát triển. Chính vì vậy nên năm 2021, dù gặp nhiều khó khăn nhưng được sự ủng hộ của Trung ương Hội và lãnh đạo tỉnh, ông Vinh đã khởi động và thành lập được Câu lạc bộ Doanh nhân CCB tỉnh, nơi hội tụ của các CCB vươn lên làm giàu chính đáng, xung kích đi đầu trên mặt trận phát triển kinh tế, tích cực tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, các hoạt động từ thiện, đặc biệt giúp đỡ các hội viên CCB khó khăn có thêm điều kiện vươn lên trong cuộc sống.
Ngót 50 năm công tác với biết bao chiến công, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc cũng như thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, ông Vinh đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua những tấm huân, huy chương, bằng khen, giấy khen như: Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Kháng chiến hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và hàng chục Bằng khen, Giấy khen của tỉnh, Quân khu 2 và của Trung ương Hội. Tháng 5/2021, lần thứ hai ông Vinh nhận quyết định nghỉ hưu, nhưng vẫn chưa chính thức được nghỉ ngơi đúng nghĩa, bởi khi về sinh hoạt tại địa phương, ông lại được bà con nhân dân tín nhiệm nên tiếp tục tham gia vào cấp ủy và các tổ chức đoàn thể của phố phường,đảm nhiệm vai trò Tổ trưởng Tổ Đảng, tham gia vào Hội người cao tuổi...
Nghe câu chuyện về cuộc đời binh nghiệp và những tháng năm dài cống hiến không biết mệt mỏi của người lính cụ Hồ- Đại tá Đoàn Quang Vinh khiến tôi quên cả thời gian. Mãi cho tới gần trưa, sự xuất hiện của Thiếu tá Đoàn Thị Hạnh- cô con gái cả của ông Vinh với hộp quà trên tay đưa chúng tôi trở về thực tại. Hóa ra hôm nay chính là ngày ông Vinh tròn 71 tuổi, Hạnh tranh thủ giờ nghỉ giữa buổi tập bắn chạy qua tặng quà và chúc mừng sinh nhật bố. Nhìn cô con gái trong bộ quân phục tỷ mỷ thao tác, hướng dẫn bố mẹ sử dụng chiếc máy đo huyết áp- món quà sinh nhật ý nghĩa mà cô vừa đem về khiến tôi cảm nhận rõ sự ấm áp và niềm hạnh phúc lớn đang tràn ngập trong ngôi nhà nhỏ của ông bà. Gần trọn cuộc đời dành cho quê hương, đất nước, giờ đây, Đại tá Đoàn Quang Vinh đã có thể yên tâm thảnh thơi vui hưởng tuổi già bên người vợ hiền và đàn con ngoan, cháu thảo.


