Người đi tìm đường
Từ chàng phụ bếp Văn Ba rời bến Nhà Rồng năm 1911 đến ông cụ sống trong ngôi nhà sàn bên ao cá, bài viết kể lại hành trình gần sáu mươi năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm và giữ lấy con đường cho dân tộc.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, con tàu Amiral Latouche-Tréville của hãng Vận tải Hợp nhất Pháp rời bến Nhà Rồng ở Sài Gòn để đi Marseille, và trong số những người làm việc dưới bếp có một chàng trai hai mươi mốt tuổi xin vào làm phụ bếp với cái tên Văn Ba. Người trên tàu khi ấy chỉ thấy một thanh niên gầy, ít nói, tay lúc nào cũng làm việc, còn chẳng ai biết rằng anh mang theo trong mình một câu hỏi lớn hơn rất nhiều so với hành lý ít ỏi của mình.
Anh muốn biết vì sao dân mình mất nước, và những nước như Pháp đã làm thế nào để giàu mạnh, nên anh quyết định phải tự mình đi tận nơi mà xem. Ba mươi năm sau, khi người thanh niên ấy trở về, đất nước đã có một con đường để đi, còn cái tên Văn Ba thì từ lâu đã được thay bằng một cái tên khác mà cả dân tộc này đều nhớ.
Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Hoàng Trù, quê ngoại, rồi lớn lên ở làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, với cái tên đầu tiên là Nguyễn Sinh Cung. Cha là cụ Nguyễn Sinh Sắc, một nhà nho nghèo đỗ phó bảng năm 1901 nhưng không mặn mà với chốn quan trường, còn mẹ là bà Hoàng Thị Loan, người phụ nữ tần tảo đã mất ở Huế khi cậu mới hơn mười tuổi.
Tuổi thơ của cậu gắn với những lần theo cha vào Huế, rồi trở về quê, rồi lại vào Huế học ở trường Quốc học, nên cậu sớm được nhìn thấy cảnh người dân bị bắt đi phu, đi lính và cảnh những phong trào yêu nước của các bậc cha chú lần lượt thất bại. Khi đi học, cậu được cha đặt tên mới là Nguyễn Tất Thành, với mong muốn người con sẽ làm nên việc lớn, và chính những năm tháng ấy đã khiến cậu bắt đầu nghĩ khác về con đường cứu nước so với lớp người đi trước.
Năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết dạy học ở trường Dục Thanh một thời gian ngắn, sau đó vào Sài Gòn và tìm cách xuống tàu ra nước ngoài, bởi anh cho rằng muốn hiểu kẻ đang cai trị mình thì phải sang tận đất nước của họ mà tìm hiểu.
Những năm đầu ở nước ngoài, anh làm đủ thứ việc để sống, từ phụ bếp trên tàu, làm vườn, cào tuyết cho đến rửa ảnh, và đi qua nhiều vùng đất ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Đi nhiều nơi như vậy, anh nhận ra rằng ở đâu người lao động nghèo cũng khổ như nhau, còn người dân ở các nước thuộc địa thì chịu thêm cái khổ của kẻ mất nước.
Năm 1919, khi các nước thắng trận họp hội nghị ở Versailles, anh cùng một số người Việt yêu nước ở Pháp gửi đến hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi những quyền tự do và bình đẳng tối thiểu cho người Việt Nam, và ký dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc. Bản yêu sách không được hội nghị đáp lại, nhưng cái tên Nguyễn Ái Quốc thì từ đó khiến chính quyền Pháp phải để ý và khiến nhiều người Việt ở trong nước lẫn ngoài nước thấy phấn chấn.
Đến tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo, và sau này Người kể lại rằng mình đã xúc động đến phát khóc khi ngồi một mình trong phòng đọc nó. Cuối năm ấy, tại Đại hội Tours, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Những năm sau đó, Người sang Liên Xô học tập và làm việc, rồi về Quảng Châu lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1925 để đào tạo những lớp cán bộ đầu tiên. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Hồng Kông, Người chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam, một dấu mốc mà về sau được xem là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.
Ngày 28 tháng 1 năm 1941, đúng dịp Tết Tân Tỵ, Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc biên giới để về lại đất nước sau tròn ba mươi năm xa cách, rồi chọn hang Pác Bó ở Hà Quảng, Cao Bằng làm nơi ở và làm việc. Người đặt tên cho dòng suối trước hang là suối Lênin, cho ngọn núi bên cạnh là núi Các Mác, và hằng ngày vẫn ngồi bên chiếc bàn đá cạnh suối để dịch sách, viết tài liệu, mở lớp huấn luyện cho cán bộ.
Cuộc sống ở đây thiếu thốn đủ đường, hang ẩm lạnh, có bữa chỉ có cháo bẹ với rau rừng, nhưng những bài thơ Người viết trong thời gian này lại rất ung dung và vui vẻ, như thể cái khó chẳng làm Người bận lòng. Tháng 5 năm 1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám và thành lập Mặt trận Việt Minh, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, và từ đây phong trào ở khắp nơi bắt đầu được nhóm lại thành một khối.
Năm 1942, trên đường sang Trung Quốc tìm sự giúp đỡ, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi qua hàng chục nhà lao ở Quảng Tây trong hơn một năm, và tập thơ Nhật ký trong tù ra đời trong hoàn cảnh ấy. Cũng từ khoảng thời gian này, Người bắt đầu dùng cái tên Hồ Chí Minh.
Tháng 8 năm 1945, khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Việt Minh phát động tổng khởi nghĩa và chỉ trong khoảng hai tuần, chính quyền về tay nhân dân trên cả nước. Hồ Chí Minh về Hà Nội, ở trong căn nhà số 48 phố Hàng Ngang và tự tay soạn bản Tuyên ngôn Độc lập trong những ngày cuối tháng ấy.
Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, hàng chục vạn người dân đổ về Quảng trường Ba Đình, và một ông cụ gầy, mặc bộ ka ki đã bạc màu, đội mũ cát, đi đôi giày vải bước lên lễ đài. Đọc được một đoạn, Người dừng lại và hỏi đồng bào có nghe rõ không, rồi cả quảng trường đồng thanh đáp lại, một khoảnh khắc mà những người có mặt hôm ấy kể rằng họ nhớ mãi về sau, vì lần đầu tiên họ thấy người đứng đầu đất nước nói chuyện với dân như người nhà.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời từ buổi chiều ấy, nhưng những năm tháng khó khăn nhất vẫn còn ở phía trước, với nạn đói, giặc dốt và quân đội nước ngoài kéo vào. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, và cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài chín năm đã kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Khi về lại Hà Nội sau kháng chiến chống Pháp, Bác không ở trong tòa nhà lớn của Phủ Toàn quyền cũ mà chọn căn nhà nhỏ của người thợ điện ở gần đó, đến năm 1958 thì chuyển sang ngôi nhà sàn bằng gỗ dựng bên ao cá trong khu Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà chỉ có hai phòng nhỏ ở tầng trên, một phòng làm việc và một phòng ngủ, đồ đạc trong đó cũng chỉ là chiếc giường gỗ, tủ sách, chiếc quạt nan và chiếc đài để nghe tin tức.
Những người từng làm việc bên Bác hay kể về đôi dép cao su cắt từ lốp ô tô mà Bác đi suốt nhiều năm, về chuyện Bác bảo bớt món trong bữa ăn khi thấy làm nhiều, hay chuyện Bác tự tay cho cá ăn mỗi chiều và trồng cây trong vườn. Bác cũng rất hay đi thăm cơ sở, ghé vào bếp ăn tập thể, xuống tận ruộng với bà con, và với trẻ em thì Bác luôn dành một sự quan tâm đặc biệt, đến mức nhiều thế hệ thiếu nhi lớn lên vẫn quen gọi Người là Bác Hồ.
Lối sống ấy không phải để làm gương cho ai xem, mà đơn giản là cách Bác đã sống từ những ngày làm phụ bếp trên tàu và ở trong hang Pác Bó, và có lẽ cũng chính vì thế mà người dân thấy Bác gần gũi như một người thân trong nhà.
Từ ngày 10 tháng 5 năm 1965, Bác bắt đầu viết bản Di chúc và trong mấy năm sau đó vẫn lặng lẽ sửa lại từng chỗ vào dịp sinh nhật của mình. Trong bản Di chúc, Bác dặn lại việc giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, nhắc đến việc chăm lo cho thế hệ trẻ và đời sống của nhân dân, và mong muốn sau khi mất thì được hỏa táng, không tổ chức linh đình để khỏi tốn tiền bạc và thời gian của dân.
Bác qua đời lúc 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, đúng ngày kỷ niệm 24 năm Quốc khánh, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn còn đang diễn ra và đất nước vẫn chưa thống nhất. Để không ảnh hưởng đến không khí ngày lễ, ngày mất của Bác khi ấy được công bố là ngày 3 tháng 9, và phải đến năm 1989 thì ngày mất thật mới được chính thức công bố lại.
Từ chàng trai Văn Ba rời bến Nhà Rồng năm 1911 đến ông cụ trong ngôi nhà sàn bên ao cá, cuộc đời Bác là một hành trình dài gần sáu mươi năm đi tìm và giữ lấy con đường cho dân tộc. Ngày nay, mỗi lần đi qua bến Nhà Rồng hay ghé thăm làng Sen, người ta vẫn có thể hình dung ra bóng dáng của người thanh niên năm ấy, người đã ra đi với hai bàn tay trắng và trở về với cả một con đường cho đất nước.



