Người đội trưởng kiên cường trên vùng ven Sài Gòn
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Quỳ, còn gọi là Ba Cà, sinh năm 1935, quê vùng Nhà Bè, Gia Định. Ông trưởng thành trong phong trào cách mạng ở vùng ven Sài Gòn – nơi có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng cơ sở, bảo vệ hành lang chiến lược và tổ chức các hoạt động quân sự hướng vào đô thị. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Văn Quỳ vừa trực tiếp chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở cách mạng, chỉ huy lực lượng địa phương chống các cuộc càn quét và phá thế kìm kẹp của đối phương. Năm 1965, ông được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng và được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
Bám trụ vùng ven – lấy cơ sở làm thế trận
Nhà Bè trong chiến tranh là địa bàn có hệ thống sông rạch chằng chịt, nằm ở cửa ngõ phía Nam Sài Gòn. Đây vừa là địa bàn có ý nghĩa quân sự, vừa là nơi đối phương tìm cách xây dựng các khu dồn dân, ấp chiến lược để kiểm soát phong trào cách mạng.
Trong điều kiện ấy, Nguyễn Văn Quỳ không chỉ hoạt động như một người lính trực tiếp chiến đấu. Ông cùng đồng đội bám dân, xây dựng cơ sở, tổ chức lực lượng du kích, đồng thời tìm cách phá thế kiểm soát của đối phương. Khi Mỹ chuyển từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ”, các cuộc càn quét vào vùng ven ngày càng quyết liệt. Có thời điểm nhiều địa bàn trở thành “vùng trắng”, cơ sở cách mạng bị tổn thất nặng nề, lực lượng địa phương phải bám trụ trên đồng nước trong điều kiện thiếu lương thực và nước uống.
Nguyễn Văn Quỳ vẫn kiên trì duy trì hoạt động: ban ngày nắm tình hình, ban đêm tổ chức lực lượng đột nhập ấp chiến lược, phá kìm, diệt các mục tiêu quân sự và khôi phục cơ sở cách mạng. Chính phương thức hoạt động này giúp lực lượng cách mạng từng bước giữ được thế bám trụ ở vùng ven Sài Gòn.
Trận đồn Hiệp Phước – một chiến công trên vùng ven Sài Gòn
Một trận đánh tiêu biểu được ghi lại trong Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Nhà Bè (1930–1975) là trận đồn Hiệp Phước. Khi đó, Nguyễn Văn Quỳ giữ cương vị đội trưởng, trực tiếp tham gia chỉ huy lực lượng tiến công đồn.
Đồn Hiệp Phước là một vị trí quân sự nằm trên địa bàn có ý nghĩa quan trọng đối với việc kiểm soát khu vực Nhà Bè. Lực lượng cách mạng tổ chức tiến công với quyết tâm phá vị trí phòng thủ của đối phương. Sau trận đánh, đồn Hiệp Phước bị san bằng, toàn bộ vũ khí và trang bị của đối phương bị thu giữ. Chiến thắng không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự mà còn tạo tác động lớn đối với phong trào cách mạng ở Nhà Bè, cổ vũ nhân dân các xã lân cận tiếp tục đấu tranh.
Đối với Nguyễn Văn Quỳ, trận đánh thể hiện khá rõ phương thức chiến đấu của lực lượng vũ trang vùng ven: nắm chắc địa bàn, dựa vào cơ sở nhân dân, lựa chọn mục tiêu phù hợp và tập trung lực lượng đánh nhanh, giải quyết mục tiêu rồi rút lui.
Phá ấp chiến lược, mở rộng vùng làm chủ
Không chỉ trực tiếp đánh đồn, Nguyễn Văn Quỳ còn chỉ huy lực lượng phối hợp với nhân dân phá các ấp chiến lược ở Đa Phước, Hưng Long. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đối phương đẩy mạnh chính sách dồn dân và kiểm soát nông thôn.
Ở những nơi này, hoạt động quân sự được kết hợp với vận động quần chúng và xây dựng cơ sở. Mục tiêu không đơn thuần là tiêu diệt một vị trí quân sự mà là làm suy yếu hệ thống kìm kẹp, đưa nhân dân trở lại cuộc đấu tranh và khôi phục thế làm chủ ở cơ sở. Đây cũng là nét đặc trưng của chiến tranh nhân dân ở vùng ven Sài Gòn: hoạt động quân sự gắn chặt với phong trào chính trị của quần chúng.
Từ những cuộc đột nhập vào ấp chiến lược đến các trận đánh phá đồn bốt, Nguyễn Văn Quỳ từng bước tạo dựng uy tín trong lực lượng vũ trang địa phương. Ông được đồng đội đánh giá là người kiên cường, linh hoạt và có khả năng tổ chức chiến đấu trong điều kiện rất khó khăn.
Cuộc càn Cedar Falls – trận chiến cuối cùng
Cuối năm 1966, đầu năm 1967, quân Mỹ mở Chiến dịch Cedar Falls (Xê-đa-phôn) nhằm đánh vào khu vực “Tam giác sắt”, một vùng căn cứ quan trọng ở phía Bắc Sài Gòn. Đây là một trong những cuộc hành quân lớn của quân Mỹ trong giai đoạn chiến tranh cục bộ.
Trong cuộc càn quy mô lớn này, lực lượng cách mạng ở vùng ven phải đối mặt với sức ép quân sự rất mạnh. Nguyễn Văn Quỳ tiếp tục bám trụ, tổ chức chiến đấu cùng đồng đội. Trong một trận chiến đấu ác liệt thuộc cuộc càn Cedar Falls, ông đã anh dũng hy sinh năm 1967, khi cuộc kháng chiến vẫn đang ở giai đoạn vô cùng quyết liệt.
Sự hy sinh của Nguyễn Văn Quỳ là tổn thất lớn đối với lực lượng cách mạng Nhà Bè. Nhưng những cơ sở mà ông và đồng đội đã dày công xây dựng vẫn tiếp tục tồn tại, trở thành một phần của thế trận cách mạng vùng ven Sài Gòn trong những năm sau đó.
Dấu ấn của một người đội trưởng
Nhìn lại cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Văn Quỳ, có thể thấy rõ ba phẩm chất nổi bật: kiên định bám trụ, mưu trí trong chiến đấu và gắn bó với nhân dân. Ông không chỉ tham gia những trận đánh cụ thể như đồn Hiệp Phước, mà còn kiên trì xây dựng lực lượng, phá ấp chiến lược ở Đa Phước, Hưng Long và chống các cuộc càn quét lớn của đối phương.
Câu chuyện thời hoa lửa của Anh hùng Nguyễn Văn Quỳ vì vậy không chỉ là câu chuyện về một người chiến đấu trong hàng trăm trận đánh. Đó còn là câu chuyện về một người cán bộ cơ sở đã biến vùng đất ven đô thành thế trận chiến tranh nhân dân, nơi mỗi cơ sở cách mạng, mỗi người dân và mỗi đơn vị du kích đều góp phần duy trì cuộc đấu tranh.
Từ Nhà Bè đến vùng Tam giác sắt, Nguyễn Văn Quỳ đã dành trọn tuổi trẻ cho cuộc kháng chiến. Ông hy sinh khi mới hơn 30 tuổi, nhưng những chiến công và tinh thần bám trụ của ông đã trở thành một phần ký ức không thể phai mờ của quê hương Nhà Bè. Ngày nay, tên Nguyễn Văn Quỳ được đặt cho một trường trung học cơ sở tại Nhà Bè, thể hiện sự ghi nhớ của địa phương đối với người con đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Câu chuyện của Nguyễn Văn Quỳ nhắc lại một bài học quan trọng của chiến tranh nhân dân: trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, sức mạnh không chỉ đến từ vũ khí mà còn từ khả năng bám dân, giữ cơ sở, tổ chức lực lượng và kiên trì vượt qua thử thách. Đó chính là phẩm chất làm nên hình ảnh người cán bộ, chiến sĩ vùng ven Sài Gòn trong những năm tháng “thời hoa lửa”.



