NGƯỜI ĐỘI TRƯỞNG NHỎ TUỔI Ở ĐẠI LỊCH
Hoàng Văn Thọ tham gia cách mạng từ khi còn rất nhỏ. Năm 13 tuổi, ông làm liên lạc cho Xã bộ Việt Minh. Hai năm sau, ông được giao làm đội trưởng một đội du kích thiếu niên gồm những thiếu nhi có nhiệm vụ đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác và hỗ trợ lực lượng du kích địa phương. Ngày 20/11/1947, khi quân Pháp hành quân qua khu vực đèo Din, Hoàng Văn Thọ xin ở lại trực tiếp chiến đấu. Ông được giao nhiệm vụ giật mìn phục kích. Sau khi trận đánh gây thương vong cho quân địch, ông lao ra lấy khẩu súng của một lính Pháp vừa trúng mìn. Trên đường rút vào ven rừng, ông bị loạt đạn của quân địch bắn trúng và hy sinh.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng núi Yên Bái là một trong những địa bàn có phong trào cách mạng phát triển mạnh nhưng cũng phải đối mặt với nhiều cuộc càn quét của quân Pháp. Ở những bản làng vùng cao, người dân phải vừa sản xuất, vừa bảo vệ cơ sở cách mạng và giúp đỡ cán bộ hoạt động. Đặc biệt, bên cạnh những người lớn tuổi còn có nhiều thiếu niên đã tham gia kháng chiến bằng những công việc phù hợp với khả năng của mình. Hoàng Văn Thọ, người dân tộc Tày ở xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, là một trong những thiếu niên tiêu biểu ấy. Sinh năm 1932 trong một gia đình nông dân ở làng Thanh Tú, Hoàng Văn Thọ sớm có tinh thần yêu quê hương và tham gia hoạt động cách mạng. Ngay từ tháng 7/1945, trước ngày giành chính quyền, cậu bé Hoàng Văn Thọ đã cùng nhân dân Đại Lịch tham gia phá kho thóc của Nhật – Pháp ở làng Mỵ. Khi quân Pháp trở lại tái chiếm Văn Chấn vào năm 1947, Thọ mới 15 tuổi nhưng đã trở thành Đội trưởng Đội du kích thiếu niên trung kiên xã Đại Lịch. Cậu bé ấy không chỉ làm nhiệm vụ liên lạc, canh gác mà còn trực tiếp tham gia chiến đấu cùng các du kích địa phương. Và trong một trận phục kích ở đèo Din ngày 20/11/1947, Hoàng Văn Thọ đã hy sinh, để lại câu chuyện về một người đội trưởng thiếu niên đã chiến đấu ngay trên quê hương mình.
Hoàng Văn Thọ sinh năm 1932, là người dân tộc Tày, quê ở làng Thanh Tú, xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Tuổi thơ của ông gắn với cuộc sống của một vùng quê miền núi trong những năm đất nước còn chịu ách thống trị của thực dân và phát xít. Khi phong trào cách mạng phát triển tại địa phương, Thọ đã sớm tham gia cùng người dân. Tháng 7/1945, khi mới khoảng 13 tuổi, ông cùng nhân dân xã Đại Lịch tham gia phá kho thóc của Nhật – Pháp ở làng Mỵ. Đây là một trong những hoạt động thể hiện tinh thần đấu tranh của nhân dân địa phương trước Cách mạng Tháng Tám. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tình hình đất nước vẫn chưa được yên ổn. Thực dân Pháp quay trở lại tiến hành chiến tranh xâm lược. Đầu tháng 10/1947, quân Pháp từ Sơn La đánh sang tái chiếm khu vực Văn Chấn và xây dựng một hệ thống đồn bốt như Ca Vịnh, Dọc, Mỵ và Đồng Bồ, tạo thành vòng bao quanh khu vực Đại Lịch. Trước tình hình ấy, lực lượng du kích địa phương cần những người thông thuộc đường sá, nhanh nhẹn và có khả năng hoạt động bí mật. Hoàng Văn Thọ được đồng chí Đào Tiến Lộc, Bí thư Chi bộ Đảng, Chính trị viên Đội du kích xã Đại Lịch, lựa chọn làm liên lạc cho Xã bộ Việt Minh. Không lâu sau, Thọ được giao nhiệm vụ chọn những thiếu niên khác để thành lập Đội du kích thiếu niên trung kiên nhằm hỗ trợ đội du kích vũ trang của xã. Ban đầu đội chỉ có ba người và do Hoàng Văn Thọ làm đội trưởng, nhưng sau đó đội dần phát triển và hoạt động tích cực. Những thiếu niên trong đội đảm nhiệm nhiều công việc như đưa đón cán bộ, bảo vệ cán bộ, canh gác, liên lạc và theo dõi tình hình quân địch. Công việc tưởng chừng nhỏ bé nhưng trong chiến tranh lại vô cùng nguy hiểm. Một người liên lạc chỉ cần bị địch bắt cũng có thể khiến cả cơ sở cách mạng gặp nguy hiểm. Chính vì vậy, Hoàng Văn Thọ phải luôn cảnh giác, nhanh nhẹn và biết cách hoạt động kín đáo. Không dừng lại ở nhiệm vụ liên lạc, Hoàng Văn Thọ còn xin được trực tiếp tham gia những trận chiến của du kích xã. Đến tháng 11/1947, quân Pháp tăng cường hoạt động quân sự trong khu vực. Sáng ngày 20/11/1947, một trung đội quân Pháp từ đồn Dọc kéo quân qua Đại Lịch về phía đồn Đồng Bồ. Đây là một lực lượng đang di chuyển qua địa bàn và có nguy cơ đe dọa khu căn cứ, chiến khu của lực lượng cách mạng. Lực lượng du kích xã quyết định tổ chức phục kích tại đèo Din. Khi biết có trận đánh sắp diễn ra, Hoàng Văn Thọ xin được ở lại trực tiếp chiến đấu thay vì chỉ làm nhiệm vụ liên lạc. Đội trưởng du kích Hoàng Minh Lưu bố trí cho Thọ thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: giật mìn tự chế khi quân Pháp tiến vào vị trí phục kích. Đây là công việc đòi hỏi người thực hiện phải giữ bình tĩnh và chờ đúng thời điểm. Nếu kích nổ quá sớm, hiệu quả của trận phục kích sẽ giảm; nếu quá muộn, bản thân người giật mìn có thể rơi vào tình trạng nguy hiểm. Khi quân Pháp tiến đến đúng vị trí, theo lệnh của Hoàng Minh Lưu, hai quả địa lôi nổ tung. Vụ nổ khiến lực lượng đối phương bị bất ngờ, làm hai lính Pháp và sáu lính ngụy chết hoặc bị thương, theo tư liệu của UBND huyện Văn Chấn. Quân địch trở nên hỗn loạn. Trong khoảnh khắc ấy, Hoàng Văn Thọ từ bìa rừng lao xuống, tiến đến chỗ một lính Pháp vừa bị trúng mìn và tháo khẩu súng Sten trên tay người lính đó. Sau khi lấy được súng, Thọ ôm súng chạy về phía ven đồi. Nhưng khi đang rút lui, một tốp lính Pháp phía sau đã phát hiện và nổ súng. Loạt đạn đã bắn trúng Hoàng Văn Thọ. Người đội trưởng du kích thiếu niên bị thương nặng và hy sinh ngay trong trận chiến khi mới 15 tuổi. Sự hy sinh của Hoàng Văn Thọ đã gây xúc động lớn trong nhân dân Đại Lịch và trở thành một sự kiện có ảnh hưởng đến phong trào kháng chiến tại địa phương. Ông được ghi nhận là liệt sĩ đầu tiên trong số hàng chục liệt sĩ của xã Đại Lịch trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau sự hy sinh ấy, tại địa phương đã phát động những phong trào như “Cướp súng giặc đánh giặc” và “Giết giặc lập công”. Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Yên Bái khi đó là Trần Đình Khánh đã trao tặng xã Đại Lịch lá cờ mang dòng chữ “Noi gương Hoàng Văn Thọ thi đua giết giặc bảo vệ quê hương”. Câu chuyện về Hoàng Văn Thọ sau này không bị lãng quên. Những đóng góp của ông được Nhà nước ghi nhận bằng Huân chương Chiến công và Bằng Tổ quốc ghi công. Đặc biệt, ngày 22/8/1998, Chủ tịch nước đã truy tặng Hoàng Văn Thọ danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Điều đặc biệt là hình ảnh Hoàng Văn Thọ còn sống trong văn học. Nhà văn Hà Lâm Kỳ, người quê Đại Lịch, đã lấy nguyên mẫu Hoàng Văn Thọ để xây dựng nhân vật trong tác phẩm Kỷ vật cuối cùng. Tác phẩm kể lại hình ảnh người đội trưởng thiếu niên, những hoạt động kháng chiến và sự hy sinh của ông, qua đó giúp câu chuyện về Hoàng Văn Thọ được truyền lại đến nhiều thế hệ trẻ. Tại quê hương Đại Lịch, tên tuổi Hoàng Văn Thọ tiếp tục được tưởng nhớ. Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sĩ Hoàng Văn Thọ được xây dựng tại xã Đại Lịch, bên cạnh đài liệt sĩ địa phương; một số trường học và một con đường ở khu vực Yên Bái cũng mang tên ông. Những địa điểm ấy không chỉ để tưởng niệm mà còn trở thành nơi để học sinh và các thế hệ trẻ tìm hiểu về lịch sử quê hương.
Hoàng Văn Thọ hy sinh khi mới 15 tuổi, nhưng cuộc đời ngắn ngủi của ông đã trở thành một phần không thể quên trong lịch sử kháng chiến của vùng đất Đại Lịch, Văn Chấn, Yên Bái. Từ một thiếu niên làm liên lạc cho Xã bộ Việt Minh, ông trở thành người đứng đầu Đội du kích thiếu niên trung kiên, trực tiếp đưa đón và bảo vệ cán bộ, canh gác và tham gia chiến đấu. Trong trận phục kích tại đèo Din ngày 20/11/1947, Hoàng Văn Thọ đã hoàn thành nhiệm vụ giật mìn, sau đó dũng cảm lấy súng của quân địch nhưng bị trúng đạn và hy sinh. Sau này, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, còn quê hương ông xây dựng nhà lưu niệm để các thế hệ sau có thể đến tìm hiểu và tưởng nhớ. Câu chuyện về Hoàng Văn Thọ khiến người đọc xúc động không chỉ bởi sự dũng cảm mà còn bởi tuổi đời quá trẻ của ông. Khi nhiều bạn bè cùng tuổi còn đang học tập và vui chơi, Hoàng Văn Thọ đã phải đối mặt với chiến tranh và lựa chọn đứng ở nơi nguy hiểm nhất để bảo vệ quê hương. Nhớ về Hoàng Văn Thọ cũng là nhớ về một thế hệ thiếu niên đã để lại tuổi trẻ của mình trong những năm tháng đất nước gian nan, từ đó càng biết trân trọng hơn cuộc sống hòa bình hôm nay.



