NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI KHÔNG TRỞ VỀ
Tôi nhập ngũ năm vừa tròn hai mươi tuổi. Ngày nhận giấy gọi, mẹ tôi ngồi ở góc bếp lặng im rất lâu. Nhà tôi nghèo, bố mất sớm, dưới còn hai em nhỏ. Tôi là lao động chính trong nhà nên mẹ thương lắm. Nhưng thời ấy, trai làng nào cũng nghĩ đơn giản: đất nước gọi thì đi. Sáng hôm lên đường, cả xã tiễn thanh niên ngoài sân hợp tác. Cờ đỏ bay phần phật trong gió tháng ba. Tiếng loa vang vang bài “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”. Mẹ dúi vào tay tôi nắm cơm nếp với mấy quả trứng luộc, nước mắt cứ chảy mãi. Tôi cười bảo: – Con đi rồi sẽ về, mẹ đừng khóc. Nhưng thật lòng lúc đó, tôi cũng không biết mình có ngày trở lại hay không. Sau ba tháng huấn luyện ở Thanh Hóa, đơn vị tôi hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Những ngày đầu tiên giữa bom đạn, tôi mới hiểu chiến tranh không giống những gì mình từng nghe kể. Đêm nào pháo cũng dội xuống. Đất rung lên từng chập. Có hôm đang ăn cơm phải ôm súng lao xuống hầm. Trong tiểu đội, người thân nhất với tôi là Lê Văn Cường, quê Nghệ An. Cường nhỏ người nhưng nhanh nhẹn và hay cười. Nó thường nói: – Khi nào hòa bình tao về cưới vợ, mở quán sửa xe. Tôi trêu: – Mày có người yêu chưa mà cưới? Nó cười hề hề: – Chưa có thì về kiếm. Giữa chiến trường ác liệt, những câu chuyện giản dị như thế lại làm chúng tôi có thêm hy vọng sống. Mùa hè năm 1972, đơn vị nhận nhiệm vụ giữ chốt gần Thành cổ Quảng Trị. Đó là quãng thời gian khốc liệt nhất đời tôi. Bom đạn ngày đêm không dứt. Đồng đội ngã xuống liên tục. Có những người sáng còn nói cười, chiều đã nằm lại dưới lòng đất. Một đêm mưa lớn, đơn vị tôi bị pháo kích bất ngờ. Tiếng nổ rung trời. Đất đá đổ xuống kín miệng hầm. Tôi bị sức ép choáng váng, tai ù đặc. Khi tỉnh lại, tôi nghe tiếng Cường gọi yếu ớt phía ngoài. Tôi bò ra thì thấy nó bị mảnh pháo găm vào ngực. Máu thấm đỏ cả áo. Nó nắm chặt tay tôi: – Hòa… nếu tao không qua khỏi… nhắn mẹ tao đừng buồn… Tôi gào lên gọi quân y nhưng pháo vẫn nổ dữ dội. Đêm ấy, Cường hy sinh ngay trong tay tôi, khi mới hai mươi mốt tuổi. Tôi đã khóc như một đứa trẻ. Sau chiến tranh, tôi nhiều lần vào Nghệ An tìm nhà Cường. Khi gặp mẹ nó, bà chỉ ôm chặt lấy tôi rồi khóc. Bà bảo: – Nó hay nhắc tên cậu trong thư lắm… Tôi trao lại bà chiếc khăn tay cũ của Cường mà tôi giữ suốt những năm chiến tranh. Đó là lần đầu tiên sau bao năm, tôi dám mở lòng kể lại đêm hôm ấy. Năm 1978, tôi xuất ngũ trở về quê hương. Làng xóm đổi khác nhiều nhưng ký ức chiến trường chưa bao giờ rời khỏi tôi. Đêm ngủ, đôi khi tôi vẫn giật mình vì tiếng bom trong mơ. Giờ đây, mỗi lần tháng bảy về, tôi lại thắp cho Cường một nén nhang. Nó mãi mãi ở tuổi hai mươi mốt – cái tuổi đẹp nhất đời người. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những người lính như chúng tôi chẳng bao giờ quên được “thời hoa lửa” năm ấy – nơi tuổi trẻ đã cháy hết mình cho Tổ quốc, cho đồng đội và cho ngày hòa bình hôm nay.



