Người du kích ba lần bước ra khỏi họng súng quân thù
Từ một người làm thuê nghèo khó, Nguyễn Văn Song gia nhập đội quân cảm tử ở Bến Cát, ba lần thoát khỏi vòng vây và trở thành một trong bảy anh hùng được tuyên dương năm 1952.
Người du kích ba lần bước ra khỏi họng súng quân thù
Tuổi thơ của Nguyễn Văn Song không bắt đầu bằng những trang sách hay một mái nhà đủ đầy. Sinh năm 1923 trong một gia đình nghèo ở vùng Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một, cậu bé Song sớm phải đi ở đợ cho nhà giàu. Công việc nặng nhọc và cuộc sống thiếu thốn khiến Song hiểu rất sớm thân phận của người dân nghèo trên chính quê hương mình.
Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng ra đời. Nhưng niềm vui độc lập ở Nam Bộ chưa kéo dài được bao lâu. Ngày 23 tháng 9, quân Pháp nổ súng trở lại Sài Gòn rồi từng bước mở rộng đánh chiếm các vùng lân cận. Tại miền đất cao su Thủ Dầu Một, nhiều người dân đang làm ruộng, cạo mủ hoặc đi làm thuê đã cầm lấy vũ khí bảo vệ làng xóm.
Nguyễn Văn Song cũng đưa ra lựa chọn của mình. Người thanh niên từng đi ở đợ rời cuộc đời làm thuê, xung phong gia nhập đội quân cảm tử tại địa phương. Từ đây, ông chiến đấu giữa một chiến trường không có ranh giới rõ ràng: ban ngày quân Pháp kiểm soát đường lớn và đồn bốt; ban đêm, lực lượng kháng chiến trở về với dân, gây dựng cơ sở và tổ chức những trận đánh nhỏ.
Bến Cát là vùng đất có nhiều rừng, vườn cao su và những tuyến giao thông quan trọng. Muốn tồn tại, người du kích phải thuộc từng lối mòn, từng bờ sông và phải được nhân dân che chở. Một lần để lộ dấu vết có thể phải trả giá bằng mạng sống.
Tháng 2 năm 1947, Nguyễn Văn Song bị bắt cùng một đồng đội. Biết ông tham gia Việt Minh, quân Pháp đưa hai người ra bờ sông gần cầu Đò, thuộc khu vực thị trấn Mỹ Phước ngày nay, để xử bắn.
Theo lời bà Phan Thị Lý, vợ ông Song, được Báo Bình Dương ghi lại, khi tiếng súng vừa nổ, ông lập tức lao xuống sông. Ông lặn vào một bụi dứa mọc sát bờ rồi nằm im giữa những chiếc lá đầy gai nhọn. Người đồng đội không thoát được và đã hy sinh.
Quân Pháp bắn xối xả dọc bờ sông, lùng tìm suốt nhiều giờ nhưng không phát hiện ra ông. Đến khi tin rằng người tù đã chết, chúng mới rút đi. Nguyễn Văn Song vẫn nằm trong bụi cây, đói lả sau những ngày bị giam giữ, da thịt bị gai dứa cứa rách.
Đêm xuống, ông lần vào một nhà dân xin thức ăn. Người trong nhà hoảng hốt vì trước đó đã nghe tin ông bị bắn chết. Chưa kịp ăn uống, Song ngất lịm vì kiệt sức. Nhân dân bí mật đưa ông vào rừng cứu chữa. Khi vết thương vừa lành, ông không rời chiến khu mà tiếp tục trở lại đội du kích.
Đó chưa phải lần cuối Nguyễn Văn Song đứng trước họng súng.
Một lần khác, quân Pháp đi tuần phát hiện ông đang đội nón lội dưới bờ sông và gọi vào bờ. Biết rằng nếu bước lên, mình khó giữ được mạng sống, Song lặn sâu xuống nước nhưng cố ý để chiếc nón nổi lại. Những loạt đạn lập tức trút xuống, bắn chiếc nón rách nát. Tưởng đã tiêu diệt được người du kích, toán lính bỏ đi. Dưới dòng nước, Song một lần nữa thoát khỏi cái chết.
Lần thứ ba, quân địch bao vây một ngôi nhà nơi ông đang ẩn náu. Không còn đường chạy, Song mang theo súng, định trèo lên mái nhà chiến đấu đến cùng. Đúng lúc ấy, chủ nhà giả vờ quát một đứa trẻ phải mau đi cắt cỏ chăn trâu.
Hiểu được ý của người dân, Song giấu súng, cầm liềm và bao tải, lom khom bước ra như một cậu bé làm việc nhà. Vì vóc người nhỏ, ông qua được vòng vây ngay trước mắt quân địch. Khi chúng nhận ra mình bị đánh lừa và đuổi theo, người du kích đã kịp chạy vào rừng.
Những lần thoát chết ấy không biến Nguyễn Văn Song thành người liều lĩnh coi thường sinh mạng. Ngược lại, chúng giúp ông hiểu giá trị của sự bình tĩnh, khả năng quan sát và mối quan hệ sống còn giữa du kích với nhân dân.
Từ năm 1950 đến năm 1954, trên cương vị tiểu đội trưởng du kích, ông kiên trì bám đất, bám dân và tổ chức chiến đấu ở địa phương. Trong gần chín năm kháng chiến, Nguyễn Văn Song tham gia hơn 30 trận, trực tiếp đốt cháy 12 xe vận tải quân sự, thu nhiều vũ khí và vận động nhiều binh lính trong hàng ngũ đối phương trở về với nhân dân.
Trong một trận đánh trên đường số 13, tiểu đội của ông đảm nhiệm nhiệm vụ chặn một lực lượng đông hơn nhiều lần. Nguyễn Văn Song giữ vững đội hình, động viên đồng đội tiếp tục chiến đấu. Riêng ông đốt cháy năm xe, góp phần chặn cuộc tiến quân và bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân trong khu vực.
Khả năng sử dụng súng chính xác khiến người dân gọi ông bằng biệt danh “Mười viên, chín địch”. Tuy vậy, phía sau biệt danh có phần dữ dội ấy là một người chiến sĩ hiểu rằng mục tiêu cuối cùng của chiến đấu là bảo vệ nhân dân và giữ vững phong trào kháng chiến.
Năm 1952, Nguyễn Văn Song được bầu là chiến sĩ giết giặc xuất sắc của tỉnh và trở thành đại biểu tiêu biểu của chiến trường Nam Bộ. Tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất, ông được lựa chọn cùng những tên tuổi như La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Cù Chính Lan và Nguyễn Thị Chiên.
Ngày 10 tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 107/SL tặng danh hiệu Anh hùng thi đua ái quốc cho bảy chiến sĩ tiêu biểu. Nguyễn Văn Song là một trong năm anh hùng thuộc lực lượng vũ trang được tuyên dương trong đợt đầu tiên ấy.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc. Trong hoàn cảnh xa quê, ông nhận tin người vợ ở miền Nam đã mất vì bom đạn, để lại ba người con nhỏ. Nỗi đau riêng không làm ông quên nhiệm vụ và miền đất Bến Cát mà mình luôn hướng về.
Năm 1955, ông viết thư chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư, người chiến sĩ Nam Bộ kể rằng dù nhiều năm chiến đấu ở xa, ông vẫn nhớ lời dạy phải không sờn trước uy vũ, không sợ gian lao. Bức thư được chép thành hai bản: một bản gửi đi, một bản được ông giữ lại như kỷ vật gia đình.
Năm 1971, Nguyễn Văn Song nghỉ hưu. Sau ngày đất nước thống nhất, ông trở về miền Đông, tiếp tục tham gia công tác địa phương cho đến những năm cuối đời. Ông mất năm 2005.
Tại tượng đài chiến thắng ở Mỹ Phước, tên Nguyễn Văn Song được khắc cùng những người con ưu tú của Bến Cát. Nhưng dấu tích sâu đậm nhất mà ông để lại không chỉ nằm trên bia đá. Đó là câu chuyện về một người ở đợ nghèo khó đã đứng dậy làm chủ vận mệnh; một người du kích ba lần bị đặt trước họng súng nhưng cả ba lần đều trở về với nhân dân và tiếp tục chiến đấu.


