NGƯỜI DU KÍCH GIỮ LÀNG
Đã hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng ông Trần Xuân Đức vẫn nhớ rõ từng con đường đất đỏ, từng cánh đồng và từng đêm trắng cùng đồng đội bảo vệ quê hương.
TÊN TÁC PHẨM: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Một thời hoa lửa – NGƯỜI NỮ THANH NIÊN XUNG PHONG MỞ ĐƯỜNG
Tác giả: Hồ Thanh Minh
Đồng tác giả: Ban Thường Vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Châu
THÔNG TIN NHÂN VẬT
Họ và tên: Trần Xuân Đức
Năm sinh : 1945
Quê quán : xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An
Đã hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng ông Trần Xuân Đức vẫn nhớ rõ từng con đường đất đỏ, từng cánh đồng và từng đêm trắng cùng đồng đội bảo vệ quê hương.
Sinh ra trong một gia đình nông dân ở Nghệ An, ông lớn lên giữa những năm tháng đất nước còn chia cắt. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, chàng trai hai mươi tuổi tình nguyện tham gia lực lượng dân quân du kích của địa phương.
Nhiệm vụ của ông và đồng đội là tuần tra, canh gác, bảo vệ cầu, cống, kho lương thực và phối hợp với bộ đội khi có yêu cầu. Ban ngày, họ lao động sản xuất như bao người dân khác. Đêm xuống, mọi người lại thay nhau trực gác, luôn trong tâm thế sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống.
Ông kể rằng có những đêm mưa lớn, cả tổ phải đi bộ nhiều kilômét để kiểm tra các tuyến đường và cây cầu trong xã. Dù mưa rét hay gió bấc, không ai rời vị trí. Ai cũng hiểu rằng việc bảo vệ an toàn cho những tuyến giao thông là góp phần phục vụ tiền tuyến.
Một lần, sau trận mưa kéo dài, một cây cầu gỗ bị hư hỏng nặng. Nếu không sửa chữa kịp thời, việc vận chuyển lương thực sẽ gặp nhiều khó khăn. Không chờ trời sáng, ông cùng đồng đội và bà con trong làng mang tre, gỗ đến gia cố cây cầu ngay trong đêm. Đến sáng hôm sau, cây cầu đã được sử dụng trở lại, giúp các chuyến hàng tiếp tục lưu thông.
Điều ông nhớ nhất là nghĩa tình quân dân. Mỗi khi bộ đội hành quân qua địa phương, bà con đều nhường cơm, sẻ áo, chuẩn bị nước uống và nơi nghỉ chân. Những tình cảm giản dị ấy đã tiếp thêm sức mạnh để mọi người cùng vượt qua những năm tháng gian khó.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả làng vỡ òa trong niềm vui. Lá cờ Tổ quốc tung bay trên sân đình, tiếng cười xen lẫn những giọt nước mắt xúc động. Ông lặng lẽ nhớ đến những người con của quê hương đã lên đường và không trở về.
Sau chiến tranh, ông trở lại với công việc đồng áng, tích cực tham gia các hoạt động của Hội Cựu chiến binh và công tác địa phương. Mỗi dịp gặp gỡ đoàn viên, thanh niên, ông đều kể về những năm tháng gian lao nhưng đầy tự hào, mong các bạn trẻ hiểu rằng hòa bình hôm nay được xây dựng từ sự đoàn kết, lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước của biết bao thế hệ.
Ông luôn tin rằng dù thời gian có trôi qua, truyền thống kiên cường của con người xứ Nghệ sẽ mãi được gìn giữ và tiếp nối bởi lớp trẻ hôm nay.



