Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người được đích thân Bác Hồ đặt tên

Thượng tướng quê ở Hưng Yên, được Bác Hồ đặt tên, 24 tuổi đã làm Tư lệnh Chiến khu 3, linh hồn của chiến dịch Tây Nguyên

Lâm Đồng16/09/2026Đoàn xã Krông Búk, Đắk Lắk (Xã Krông Búk)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người được đích thân Bác Hồ đặt tên

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, quê ở Hưng Yên, là vị tướng tài danh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông được Bác Hồ đặt tên, mới 24 tuổi đã giữ cương vị Tư lệnh Chiến khu 3 và sau này trở thành một trong những nhân vật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, được xem là “linh hồn” của Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.

Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo (1921 -2008), tên khai sinh là Tạ Thái An, quê quán thôn Cao, xã Bảo Khê, thị xã Hưng Yên cũ. Cha ông là một thợ may có tiếng ở địa phương. Do tích cực ủng hộ cách mạng, cha ông bị thực dân truy bức, buộc phải rời quê ra Hòn Gai, sau đó chuyển lên Thất Khê, Lạng Sơn sinh sống.

Năm 13 tuổi, Tạ Thái An được cha gửi về Hà Nội theo học tại Trường tư thục Thăng Long, một ngôi trường từng đào tạo nhiều trí thức và nhân vật tiêu biểu của đất nước. Tại đây, ông có cơ hội học tập dưới sự dìu dắt của những nhà giáo, trí thức nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám...

Khi còn là học sinh, Tạ Thái An đã tìm hiểu và tham gia hoạt động cách mạng nên từng bị thực dân Pháp bắt. Do không có bằng chứng, ông được trả tự do. Sau đó, ông trở về Lạng Sơn, tích cực hoạt động trong Đảng bộ huyện Tràng Định.

Năm 1937, Tạ Thái An được đưa vào diện cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn, tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ và hoạt động với bí danh Tạ Quang.

Năm 1941, ông tham gia Việt Minh, được cử sang Liễu Châu (Trung Quốc) học quân sự. Trong thời gian này, ông được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên mới là Hoàng Minh Thảo. Theo đó, “Hoàng” gợi từ Trường Hoàng Phố, còn “Minh Thảo” hàm ý người thông minh, nghĩa tình và nhân hậu.

Trước đó, vào đầu năm 1941, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng, ông cùng Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Vũ Lập, Nam Long, Thanh Phong... được cử sang Trung Quốc học quân sự. Cuối năm 1944, ông trở về Lạng Sơn xây dựng cơ sở du kích, làm chính trị viên trung đội. Tháng 5/1945, ông chỉ huy du kích tiêu diệt đồn Pò Mã, sau đó tham gia Cách mạng Tháng Tám, giành chính quyền tại huyện Tràng Định.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được điều về Hà Nội và giữ cương vị Tư lệnh Chiến khu 3 thay ông Nguyễn Bình được điều vào Nam giữ chức Tư lệnh Nam Bộ. Khi đó ông chỉ vừa mới 24 tuổi và tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc, giành lại Móng Cái - Hà Cối.

Tháng 11/1946, khi thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, ông cùng lực lượng địa phương tổ chức chiến đấu. Sau khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Liên khu 3.

Đến năm 1948, ở tuổi 27, ông trở thành một trong những đại tá trẻ nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong quân hàm đầu tiên.

Năm 1949, Hoàng Minh Thảo được giao làm Tư lệnh Liên khu 4. Năm 1950, ông trở thành Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự chỉ huy của ông, đơn vị tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh ở Trung Lào, Cánh Đồng Chum, Ninh Bình và bảo vệ hậu phương Khu 4, góp phần phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đầu năm 1954, ông làm Hiệu trưởng Trường bổ túc quân chính Bắc Sơn. Năm 1956, trường được phát triển thành Trường Quân sự Trung cao, sau này là Học viện Quân sự. Năm 1962, ông có thời gian sang Trung Quốc học tập. Trong những năm công tác tại nhà trường, ông vừa nghiên cứu, giảng dạy, vừa góp phần tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo và chiến dịch Tây Nguyên vang dội

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được giao làm Phó Tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên năm 1966. Năm 1967, trên cương vị Tư lệnh Mặt trận B3, ông chỉ huy Chiến dịch Đắc Tô 1, vận dụng sáng tạo chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”, góp phần hạn chế ưu thế cơ động và hỏa lực của quân Mỹ.

Đầu năm 1970, ông cùng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức Chiến dịch Đắc Xiêng, vận dụng chiến thuật “vận động bao vây liên tục”, tiêu diệt lực lượng địch và quân cứu viện.

Năm 1972, ông tiếp tục chỉ huy Chiến dịch Đắc Tô - Tân Cảnh, sử dụng nghi binh để thu hút quân địch về Kon Tum, tạo điều kiện tập trung lực lượng đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh. Chiến thắng này góp phần cùng các thắng lợi lớn trên chiến trường năm 1972 tạo sức ép buộc Mỹ ký Hiệp định Paris và rút quân khỏi Việt Nam.

Năm 1974, ông giữ chức Phó Tư lệnh Liên khu 5. Cuối năm, ông ra Hà Nội dự các cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương bàn kế hoạch giải phóng miền Nam. Khi chủ trương chọn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của Chiến dịch Tây Nguyên được xác định, Hoàng Minh Thảo được giao làm Tư lệnh chiến dịch, đồng thời là Chỉ huy trưởng trận Buôn Ma Thuột.

Tháng 3/1975, đòn tiến công vào Buôn Ma Thuột mở màn thắng lợi, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của đối phương ở Tây Nguyên, tạo bước ngoặt quan trọng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Hoàng Minh Thảo sau này luôn khẳng định thắng lợi ấy trước hết là kết quả của chủ trương đúng đắn của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và sự chỉ đạo chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Chiến thắng Tây Nguyên năm 1975 tạo bước ngoặt chiến lược, mở đường cho các chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Hồ Chí Minh, góp phần đưa cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Năm 1976, Hoàng Minh Thảo trở lại công tác nghiên cứu, giảng dạy, giữ chức Viện trưởng Học viện Lục quân và có thời gian học tập tại Liên Xô. Tại Đại hội IV của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, đến tháng 11/1981 trở thành Ủy viên chính thức.

Năm 1977, ông làm Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng. Năm 1990, ông giữ chức Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự, Bộ Quốc phòng. Từ năm 1995, dù nghỉ công tác quản lý, ông vẫn tiếp tục giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, viết sách, nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự, đồng thời tham gia nhiều hội đồng khoa học cấp Nhà nước.

Nói về Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Trung tướng Phạm Hồng Cư - nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, từng đánh giá ông là người có “ba công lớn”. Trước hết, ông là vị tướng trận mạc tài năng, có tư duy lý luận quân sự sâu sắc và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin tưởng.

Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông từng chỉ huy Chiến khu 3, tham gia giải phóng Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức kháng chiến chống Pháp ở Hải Phòng, sau đó giữ cương vị Tư lệnh Quân khu 4.

Dấu ấn lớn thứ hai là vai trò Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đặc biệt trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. Thứ ba, ông là một trong những người góp phần đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp, nay là Học viện Quốc phòng.

Không chỉ là một nhà chỉ huy quân sự, Hoàng Minh Thảo còn có nhiều đóng góp trong nghiên cứu và giáo dục quốc phòng. Ông được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988, là tác giả nhiều công trình, sách về nghệ thuật quân sự và từng tham gia Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn