Bài viết

NGƯỜI EM GÁI GỌI CHỊ BẰNG HAI TIẾNG “CHỊ HAI”

Đặng Thùy Trâm (1942–1970) sinh ngày 26/11/1942 tại Huế, lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình trí thức. Năm 1966, chị tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội và tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Từ năm 1967, chị công tác tại Bệnh xá Đức Phổ, Quảng Ngãi, trực tiếp cứu chữa thương binh, chiến sĩ và nhân dân trong điều kiện chiến tranh gian khổ. Ngày 22/6/1970, chị hy sinh tại Quảng Ngãi khi mới 27 tuổi. Chị để lại hai cuốn nhật ký, sau này được trao trả cho gia đình và xuất bản với tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm, gây tiếng vang trong và ngoài nước. Năm 2006, chị được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, lý tưởng sống và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam.

Hà Nội21/08/2026Phạm Thị Như Quỳnh (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi từng nghĩ chiến tranh là những điều rất xa.

Là những con số trong sách lịch sử. Là những trận đánh mà tôi chỉ biết qua bài giảng của thầy cô. Là những bức ảnh đã ngả màu được đặt trong bảo tàng. Là những cái tên được khắc trên bia tưởng niệm.

Cho đến khi tôi biết câu chuyện về một cô gái Quảng Ngãi đã gọi một nữ bác sĩ từ Hà Nội vào chiến trường bằng hai tiếng rất đỗi thân thương:

“Chị Hai.”

Cô gái ấy tên là Tạ Thị Ninh, một người con của vùng đất Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Và người chị mà bà gọi là “chị Hai” chính là bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Tháng 3 năm 1967, bác sĩ Đặng Thùy Trâm từ miền Bắc vào chiến trường Quảng Ngãi sau một hành trình dài đầy gian khổ. Chị được phân công phụ trách Bệnh xá Đức Phổ, nơi điều trị cho thương binh, người dân và du kích địa phương.

Ngày ấy, Tạ Thị Ninh còn là một cô gái trẻ ở Phổ Cường.

Trong những ngày đầu đặt chân đến Đức Phổ, bác sĩ Trâm được một người tên Thuận đưa đến nhà Ninh. Chị Trâm khi ấy là một nữ bác sĩ vừa từ miền Bắc vào, còn Ninh là cô gái quê của vùng đất chiến tranh.

Hai con người ấy vốn chẳng có quan hệ máu mủ.

Nhưng chiến tranh đã đưa họ đến gần nhau.

Mẹ của Ninh là bà Nguyễn Thị Hải, một cơ sở cách mạng. Bác sĩ Trâm gọi bà bằng hai tiếng thân thương: “má Hải”.

Còn Ninh, vì kính trọng và yêu quý người nữ bác sĩ trẻ, đã gọi chị là “chị Hai”.

Tôi thích hai tiếng ấy.

Không phải vì chúng đặc biệt.

Mà bởi giữa một thời chiến tranh khốc liệt, khi con người có thể gặp nhau hôm nay nhưng ngày mai đã phải chia xa, hai tiếng “chị Hai” lại tạo nên một thứ tình cảm rất đỗi bình thường: tình chị em.

Bác sĩ Trâm không chỉ chữa bệnh trong bệnh xá.

Chị đi đến những xóm làng, vượt qua những nơi nguy hiểm để chữa bệnh cho người dân. Theo lời kể của bà Ninh, dù máy bay và quân lính Mỹ thường xuyên hoạt động, bác sĩ Trâm vẫn đi về các xóm làng để khám chữa bệnh và hướng dẫn người dân sử dụng những bài thuốc từ cây lá.

Tôi cứ nghĩ mãi về hình ảnh ấy.

Một cô gái từ Hà Nội vào.

Một nữ bác sĩ trẻ.

Mang theo kiến thức của mình giữa một vùng đất đầy bom đạn.

Chị không có một bệnh viện lớn.

Không có những phòng mổ đầy đủ thiết bị.

Bệnh xá khi ấy chỉ là những lán trại đơn sơ. Người bị thương nhẹ nằm trên võng, người bị thương nặng nằm trên những vạt tre để điều trị.

Vậy mà chị vẫn làm công việc của một người thầy thuốc.

Có một người từng được chị cứu chữa là ông Tâm. Trong một trận đánh ở Đức Phổ tháng 6 năm 1969, ông bị thương nặng ở chân. Ngày 14 tháng 6, bác sĩ Trâm đã phẫu thuật cắt bỏ phần chân bị thương trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Bệnh xá lúc ấy chỉ còn hai bình máu khô và ông đã được truyền cả hai.

Tôi đọc đến đó rồi dừng lại rất lâu.

Tôi không biết phải gọi điều ấy là gì.

Can đảm?

Trách nhiệm?

Hay đơn giản là lòng thương người?

Có lẽ là tất cả.

Cuối năm 1968, khi mới 19 tuổi, Tạ Thị Ninh quyết định theo học lớp đào tạo y tá ngắn hạn tại Bệnh xá Đức Phổ do chính bác sĩ Đặng Thùy Trâm giảng dạy.

Tôi đặc biệt thích chi tiết này.

Bởi nếu chỉ kể về Đặng Thùy Trâm, câu chuyện có thể trở thành câu chuyện về một nữ bác sĩ anh hùng.

Nhưng khi có Tạ Thị Ninh, tôi nhìn thấy một điều khác.

Một người trẻ nhìn vào một người trẻ khác và lựa chọn đi theo con đường của họ.

Ninh không phải người từ nơi xa đến.

Ninh là con gái của vùng đất Quảng Ngãi.

Chị lớn lên giữa chiến tranh.

Và chính trên quê hương mình, chị gặp một nữ bác sĩ đến từ Hà Nội.

Hai người con gái, một người từ miền Bắc, một người sinh ra trên đất Quảng Ngãi, gặp nhau giữa chiến tranh rồi cùng học nghề cứu người.

Từ tình chị em, họ trở thành đồng chí.

Từ một cô gái quê, Tạ Thị Ninh trở thành người học trò của bác sĩ Trâm.

Và sau này, ký ức về “chị Hai” trở thành một phần không thể tách rời trong cuộc đời bà.

Ngày 22 tháng 6 năm 1970.

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm hy sinh tại Khe Nước Lạnh, xóm Đồng Lớn, thôn Nước Đang, xã Ba Trang, Quảng Ngãi, khi đang trên đường đi công tác. Khi ấy chị chưa đầy 28 tuổi.

Tôi đã đọc rất nhiều lần về ngày chị hy sinh.

Nhưng điều khiến tôi xúc động hơn cả lại là những gì xảy ra sau đó.

Chị không còn nữa.

Nhưng ở Phổ Cường, vẫn có một người em gái nhớ chị.

Nhiều năm trôi qua, bà Tạ Thị Ninh vẫn giữ ký ức về người chị kết nghĩa.

Mỗi ngày 22 tháng 6, gia đình bà cùng nhiều người dân Phổ Cường thắp hương tưởng nhớ bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Tôi nghĩ, có những người đã hy sinh từ rất lâu nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi cuộc sống của những người ở lại.

Họ ở trong một căn nhà.

Trong một con đường.

Trong một câu chuyện được kể lại.

Trong một nén nhang.

Và đôi khi, chỉ trong hai tiếng gọi thân thương:

“Chị Hai.”

Có một điều đặc biệt nữa trong câu chuyện này.

Hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm được viết trong những năm chị ở chiến trường Quảng Ngãi. Sau khi chị hy sinh, những cuốn nhật ký ấy rơi vào tay một sĩ quan quân báo Mỹ tên Frederic Whitehurst. Ông đã giữ chúng suốt 35 năm và đến năm 2005, nhật ký được trao lại cho gia đình chị.

Nhưng nếu chỉ có những trang nhật ký, câu chuyện về Đặng Thùy Trâm có lẽ sẽ được nhìn từ một góc khác.

Bởi những trang giấy kể về suy nghĩ của một người.

Còn những người như Tạ Thị Ninh lại kể về một Đặng Thùy Trâm mà họ từng gặp trong đời sống.

Một người chị.

Một người thầy.

Một người đồng đội.

Một bác sĩ đi chữa bệnh cho dân.

Một con người biết sợ nhưng vẫn bước tiếp.

Và chính những ký ức của những người từng sống bên chị đã khiến hình ảnh Đặng Thùy Trâm không chỉ nằm trên những trang sách.

Chị còn sống trong ký ức của người dân Quảng Ngãi.

Tôi là một người trẻ sinh ra khi chiến tranh đã lùi rất xa.

Tôi không biết tiếng bom nghe như thế nào.

Tôi chưa từng phải chia tay một người thân để họ ra trận.

Tôi chưa từng phải sống trong một căn lán giữa rừng để chữa trị cho những người bị thương.

Tôi may mắn được học tập trong hòa bình.

Được ngồi trong một giảng đường.

Được lựa chọn ước mơ.

Được nghĩ về tương lai mà không phải lo ngày mai mình còn được nhìn thấy những người mình thương hay không.

Nhưng chính vì sinh ra trong hòa bình, tôi càng cần phải nhớ.

Không phải để sống mãi với chiến tranh.

Mà để hiểu giá trị của hòa bình.

Câu chuyện về Đặng Thùy Trâm và Tạ Thị Ninh khiến tôi nhận ra rằng lịch sử không chỉ được làm nên bởi những người có tên trong sách.

Lịch sử còn được giữ lại bởi những người bình thường.

Một cô gái 19 tuổi học nghề y.

Một người mẹ làm cơ sở cách mạng.

Một người dân che chở cán bộ.

Một người bác sĩ cứu chữa thương binh trong lán trại.

Một người em gái gọi người chị không cùng máu mủ bằng hai tiếng “chị Hai”.

Những con người ấy đã sống một phần đời của mình trong những năm tháng khắc nghiệt nhất.

Và họ đã để lại cho thế hệ sau một điều lớn hơn cả những câu chuyện về chiến thắng.

Đó là cách con người đối xử với nhau trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Tôi chưa từng gặp bà Tạ Thị Ninh.

Nhưng qua những lời kể về bà, tôi có cảm giác mình đã gặp một phần ký ức của Quảng Ngãi.

Tôi cũng chưa từng gặp bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Nhưng qua câu chuyện của những người từng sống bên chị, tôi hiểu vì sao một cô gái chưa đầy 28 tuổi lại có thể được nhớ đến suốt hơn nửa thế kỷ.

Có lẽ bởi điều khiến một con người sống mãi không phải là họ đã sống bao nhiêu năm.

Mà là họ đã để lại điều gì trong cuộc đời của những người khác.

Đặng Thùy Trâm để lại những trang nhật ký.

Để lại một bệnh xá.

Để lại những người đồng đội.

Để lại một người em gái tên Ninh.

Và để lại trên mảnh đất Quảng Ngãi một câu chuyện mà thế hệ sau vẫn còn kể.

Còn Tạ Thị Ninh, người em gái gọi chị bằng hai tiếng “chị Hai”, đã giữ câu chuyện ấy đi qua năm tháng.

Để hôm nay, một người trẻ như tôi có thể ngồi đọc, lặng đi và tự hỏi:

Nếu mình được sinh ra trong những năm tháng ấy, mình sẽ sống như thế nào?

Tôi không biết câu trả lời.

Nhưng tôi biết câu trả lời của những người đi trước.

Họ đã sống bằng tất cả những gì mình có.

Bằng tuổi trẻ.

Bằng tình yêu thương.

Bằng trách nhiệm.

Và bằng niềm tin vào một ngày đất nước được hòa bình.

Vì thế, tôi muốn gọi câu chuyện này không chỉ là câu chuyện về một người anh hùng.

Tôi muốn gọi đó là câu chuyện về một tiếng gọi.

Hai tiếng “chị Hai” đã đi qua hơn nửa thế kỷ.

Và đến hôm nay, khi được nghe lại, tôi vẫn cảm thấy trong đó có hơi ấm của một tình thân chưa bao giờ cũ.

Chiến tranh có thể lấy đi tuổi trẻ của một thế hệ, nhưng không thể lấy đi những tình cảm mà họ đã trao cho nhau.

Và có lẽ, đó cũng là cách những người đã khuất tiếp tục sống:

Trong ký ức của người ở lại, trong câu chuyện của thế hệ sau, và trong những điều tốt đẹp mà chúng ta lựa chọn tiếp tục từ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn