Người Gác Cầu Trong Đêm
Một người dân công trẻ đã âm thầm canh giữ cây cầu gỗ suốt nhiều đêm giữa vùng chiến sự, giúp đoàn người và hàng hóa vượt qua an toàn trong thời bom đạn.
Những năm đầu thập niên 1970, vùng Đồng Tháp Mười chìm trong khói lửa chiến tranh. Kênh rạch chằng chịt khiến những cây cầu gỗ nhỏ trở thành con đường sống nối các đơn vị với nhau.
Võ Thành Nhơn khi ấy mới ngoài hai mươi tuổi, làm dân công hỏa tuyến. Công việc của anh là vận chuyển gạo, thuốc men và dẫn đường qua những khu vực nguy hiểm.
Ở cuối một con kênh lớn có cây cầu ván rất hẹp. Ban ngày cầu trông bình thường, nhưng ban đêm cực kỳ nguy hiểm vì nhiều tấm ván đã mục sau các đợt bom rung chuyển. Chỉ cần sơ ý, người hoặc xuồng hàng có thể rơi xuống nước bất cứ lúc nào.
Một tối mưa phùn, đơn vị giao cho anh nhiệm vụ đứng gác cầu để dẫn đường cho đoàn vận tải đi qua trong đêm.
Không có đèn pin vì sợ lộ vị trí, anh chỉ cầm một chiếc đèn dầu nhỏ che bằng lon sữa bò đục lỗ. Mỗi khi có người đến gần đoạn nguy hiểm, anh lại dùng tay che mở ánh đèn để ra hiệu.
Suốt đêm ấy, từng tốp người lặng lẽ qua cầu: bộ đội, giao liên, có cả những phụ nữ gánh thuốc men trên vai.
Khoảng nửa đêm, tiếng máy bay vọng đến từ xa. Mọi người lập tức nằm rạp xuống mép cầu. Đạn pháo nổ sáng cả cánh đồng nước.
Trong lúc hỗn loạn, một cậu bé giao liên khoảng mười lăm tuổi trượt chân suýt rơi xuống kênh. Anh Nhơn lao tới giữ lại kịp lúc, nhưng chính anh bị mảnh gỗ cứa rách cả bàn tay.
Cậu bé run run nói:
“Nếu không có chú chắc cháu rớt xuống rồi…”
Anh Nhơn chỉ cười:
“Qua được cầu là sống.”
Đến gần sáng, đoàn người cuối cùng cũng đi hết. Khi trời bắt đầu hửng, anh mới ngồi xuống mé cầu, đôi tay tê cứng vì lạnh và máu đã khô trên vết thương.
Sau ngày hòa bình, cây cầu ấy không còn nữa. Một cây cầu bê tông mới đã được xây thay thế. Nhưng mỗi lần đi ngang con kênh cũ, ông Nhơn vẫn nhớ những đêm tối chỉ có ánh đèn dầu nhỏ lập lòe giữa mưa bom.
Ông thường nói với con cháu:
“Ngày đó nhiều người chẳng ai biết tên, nhưng họ đã đứng trong bóng tối để giữ cho người khác được đi tiếp.”


