Người Ghi Chép Non Sông
Tác giả: Nhữ Vũ Khánh Linh
Lê Quý Đôn, tên thật là Lê Danh Phương, sinh ngày 2-8-1726 tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình. Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, ông nổi tiếng ham học từ nhỏ. Năm 17 tuổi, Lê Quý Đôn đỗ Giải nguyên; đến năm 27 tuổi, ông đỗ Hội nguyên và Đình nguyên Bảng nhãn. Sau khi đỗ đạt, ông bước vào con đường làm quan và lần lượt giữ nhiều chức vụ trong triều Lê – Trịnh.
Không chỉ làm quan, Lê Quý Đôn dành phần lớn cuộc đời cho việc đọc sách, nghiên cứu và ghi chép. Trong quá trình làm việc ở Quốc sử quán và nhiều địa phương, ông quan tâm đến lịch sử, địa lý, văn hóa, chế độ chính trị, phong tục, sản vật và đời sống xã hội. Những điều mắt thấy tai nghe cùng tri thức ông tích lũy được dần được tập hợp thành nhiều công trình có giá trị.
Năm 1759, Lê Quý Đôn được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Chuyến đi kéo dài đến năm 1762 không chỉ là một nhiệm vụ ngoại giao mà còn đem lại cho ông cơ hội tiếp xúc với giới học thuật và văn nhân Trung Quốc. Tài năng và kiến thức của Lê Quý Đôn được các học giả đương thời chú ý. Sau khi trở về nước, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều công việc liên quan đến học thuật, sách vở và quốc sử.
Đến năm 1776, Lê Quý Đôn được bổ làm Hiệp trấn, Tham tán quân cơ ở Thuận Hóa. Trong thời gian làm việc tại Đàng Trong, ông có điều kiện tìm hiểu kỹ tình hình vùng đất này. Những ghi chép về địa lý, xã hội, sản vật, đường sá và các vấn đề liên quan đến vùng Thuận Hóa – Quảng Nam được ông tập hợp trong Phủ biên tạp lục. Tác phẩm trở thành một nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu Đàng Trong vào thế kỷ XVIII.
Bên cạnh Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn còn để lại nhiều công trình lớn như Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Bắc sử thông lục và Toàn Việt thi lục. Đặc biệt, Toàn Việt thi lục gồm 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Lê Tương Dực; ông hoàn thành tác phẩm vào năm 1768. Những công trình ấy cho thấy phạm vi nghiên cứu rất rộng của Lê Quý Đôn, từ lịch sử, văn học đến địa lý, chế độ và đời sống xã hội.
Một trong những tác phẩm thể hiện rõ tinh thần khảo cứu của ông là Vân đài loại ngữ, một công trình tập hợp và hệ thống hóa kiến thức trên nhiều lĩnh vực. Cùng với các trước tác khác, những ghi chép của Lê Quý Đôn đã lưu giữ một khối lượng lớn tư liệu về xã hội và văn hóa Việt Nam thời kỳ ông sống. Chính vì vậy, ông được hậu thế đánh giá là một trong những học giả lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII.
Năm 1783, Lê Quý Đôn được cử làm Hiệp trấn Nghệ An nhưng sau đó lâm bệnh và trở về quê. Ông qua đời ngày 1-5-1784. Cuộc đời của Lê Quý Đôn khép lại sau gần sáu thập kỷ, nhưng những công trình ông để lại vẫn trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam. Từ những trang sách và ghi chép của mình, ông đã để lại một dấu ấn đặc biệt của một học giả dành cả cuộc đời để đọc, suy ngẫm và ghi lại những điều mình biết về non sông và con người Việt Nam.



