NGƯỜI GIỮ BẢN GIỮ LÀNG NƠI BIÊN CƯƠNG – Sùng Dúng Lù
NGƯỜI GIỮ BẢN GIỮ LÀNG NƠI BIÊN CƯƠNG – Sùng Dúng Lù
NGƯỜI GIỮ BẢN GIỮ LÀNG NƠI BIÊN CƯƠNG – Sùng Dúng Lù
Trong đêm “Thời hoa lửa”, giữa vòng tròn đoàn viên, thanh niên quây quần bên ánh lửa hồng, câu chuyện về một người con dân tộc Mông năm xưa được kể lại bằng giọng trầm ấm, đầy tự hào. Đó là câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Sùng Dúng Lù – người đã dũng cảm giữ bình yên cho bản làng nơi biên cương Tổ quốc.
Ông sinh năm 1923 tại vùng cao nguyên đá Hà Giang, trong một gia đình người Mông chất phác. Từ nhỏ, ông đã sớm thấm thía nỗi nhọc nhằn của đồng bào vùng cao và hiểu giá trị của sự đoàn kết bản làng. Năm 1947, ông tham gia dân quân, góp sức bảo vệ quê hương trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp.
Không chỉ gan dạ trong chiến đấu, Sùng Dúng Lù còn nổi bật ở tinh thần trách nhiệm và khả năng tập hợp quần chúng. Năm 1959, trên cương vị Xã đội trưởng xã Vần Chải, ông cùng cán bộ địa phương xây dựng lực lượng dân quân từ 18 người lên 47 người – vừa giỏi sản xuất, vừa vững quân sự, luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bản, bảo vệ xã.
Nhưng thử thách lớn nhất đến vào tháng 11-1959. Khi ấy, 38 tên phỉ kéo vào Vần Chải, giết người, cướp của, xuyên tạc chính sách của Đảng và Chính phủ. Nhiều gia đình hoảng sợ bỏ chạy vào rừng, chính quyền xã bị khống chế.
Giữa tình thế hiểm nguy ấy, Sùng Dúng Lù không lùi bước. Ông cùng một số dân quân kiên quyết ở lại bám dân, theo dõi hoạt động của phỉ. Sau đó, ông bí mật vượt rừng lên huyện báo cáo, dẫn đường cho bộ đội về phối hợp tiêu diệt phỉ. Khi tình hình tạm yên, ông lại vào rừng vận động bà con trở về bản làm ăn.
Tên cầm đầu Vàng Vạn Ly trốn thoát. Hắn từng gây nhiều tội ác và tiếp tục lén lút chống phá. Huyện đội giao nhiệm vụ cho Sùng Dúng Lù phải tìm cách tiêu diệt hoặc buộc hắn ra hàng.
Suốt nửa tháng trời, ông lặng lẽ len lỏi trong rừng sâu, dò từng dấu chân, từng lối mòn. Không chỉ truy tìm, ông còn kiên trì vận động, giải thích đường lối của Đảng cho vợ và con dâu của Ly. Chính từ sự thuyết phục bền bỉ ấy, ông lần ra nơi ẩn náu của tên trùm phỉ trong hang đá trên núi Sảo Há.
Dân quân được bố trí vây chặt. Nhưng thay vì nổ súng, Sùng Dúng Lù quyết định một mình bước vào hang đá.
Trước mặt ông là kẻ từng gây bao tội ác. Lúc đầu, Ly ngoan cố, định ra tay sát hại ông. Nhưng người Xã đội trưởng ấy vẫn bình tĩnh, ánh mắt không hề sợ hãi. Ông nói bằng sự chân thành, bằng lý lẽ và bằng niềm tin vào chính nghĩa. Cuối cùng, Vàng Vạn Ly nghe ra lẽ phải, cùng ba tên phỉ khác ra hàng, nộp 7 khẩu súng và đạn dược.
Từ đó, bản làng yên bình trở lại.
Không chỉ giữ yên an ninh, Sùng Dúng Lù còn là người đi đầu trong phát triển kinh tế. Ông vận động bà con định canh, định cư, đưa người Mông xuống thấp sản xuất, học cách trồng lúa nước như đồng bào miền xuôi. Ông gương mẫu tham gia hợp tác xã, thực hiện tốt mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Nhờ làm theo gương ông, đời sống nhân dân dần khấm khá. Xã không còn phải mua thóc cứu đói như trước. Đồng bào thêm tin tưởng vào chính quyền, vào con đường mình đang đi.
Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng địa phương, ngày 1-1-1967, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông còn được trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý, trong đó có Huân chương Chiến công hạng Ba.
Trong đêm lửa trại, câu chuyện về ông không chỉ là ký ức của một thời chống phỉ gian nan, mà còn là bài học về bản lĩnh, trí tuệ và lòng kiên trì. Ông đã dạy chúng ta rằng: dũng cảm không chỉ là cầm súng, mà còn là dám đối mặt hiểm nguy bằng niềm tin và sự thuyết phục.
Với đoàn viên, thanh niên hôm nay, ngọn lửa năm xưa ấy là lời nhắc nhở:
Hãy biết giữ gìn sự đoàn kết.
Hãy sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Và khi Tổ quốc cần, hãy sẵn sàng đứng lên bảo vệ bản làng mình.
Giữa ánh lửa bập bùng, cái tên được nhắc lại đầy tự hào –
Sùng Dúng Lù.



