Anh hùng Lao động

Người giữ hai mươi ngọn đèn giữa cửa biển Nam Triệu

Năm 1958, vừa lập gia đình, Phùng Văn Bằng tình nguyện ra làm việc tại cửa biển Nam Triệu. Ông cùng đồng đội bảo đảm 20 đèn phao và năm nhà đèn hoạt động liên tục, cải tiến thiết bị, dạy chữ cho công nhân và giữ luồng tàu Hải Phòng thông suốt cả trong những năm chiến tranh phá hoại.

Hải Phòng22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngoài cửa biển Nam Triệu, khi màn đêm phủ xuống, mỗi đốm sáng trên mặt nước đều mang một ý nghĩa sống còn.

Đó là những ngọn đèn phao đánh dấu luồng hàng hải, giúp người lái tàu nhận biết nơi có thể đi qua và những vùng nước nguy hiểm cần tránh. Chỉ cần một ngọn đèn tắt hoặc một phao bị sóng đánh lệch khỏi vị trí, con tàu đi trong đêm có thể chệch luồng, mắc cạn hoặc gặp tai nạn.

Cuối những năm 1950, người chịu trách nhiệm giữ cho các ngọn đèn ấy không tắt là một công nhân trẻ tên Phùng Văn Bằng.

Ông sinh năm 1936 tại làng My Động, xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Năm 16 tuổi, Phùng Văn Bằng rời quê ra Hải Phòng kiếm sống. Trong những ngày cuối cùng trước khi quân Pháp rút khỏi thành phố, ông tham gia cùng công nhân đấu tranh bảo vệ máy móc, không để thiết bị của các nhà máy bị tháo dỡ chuyển vào miền Nam.

Sau ngày Hải Phòng giải phóng 13 tháng 5 năm 1955, ông làm việc trong ngành bảo đảm hàng hải.

Năm 1958, dù vừa lập gia đình, Phùng Văn Bằng vẫn xung phong ra công tác tại khu vực xa đất liền. Ông được giao làm việc ở tổ đèn Nam Triệu, phụ trách hệ thống báo hiệu trên tuyến từ cửa sông Đình Vũ đến phao số không.

Tổ của ông phải chăm sóc 20 đèn phao và năm nhà đèn.

Phía sau con số ấy là hàng loạt công việc nặng nhọc. Công nhân phải đi thuyền đến từng vị trí, kiểm tra nhiên liệu, lau kính, sửa bộ phận phát sáng và bảo đảm phao không bị sóng gió làm dịch chuyển. Khi thời tiết xấu, việc tiếp cận một đèn phao giữa cửa biển trở nên đặc biệt nguy hiểm.

Biển không chờ con người sửa chữa xong mới nổi sóng.

Nếu đèn gặp trục trặc vào ban đêm, người công nhân vẫn phải lên đường. Tàu hàng ngoài khơi không thể dừng toàn bộ hành trình chỉ vì một ngọn đèn dẫn luồng không hoạt động.

Thiết bị hàng hải thời kỳ ấy còn thô sơ. Nhiều đèn sử dụng hệ thống đốt bằng hơi, việc vận hành và bảo dưỡng tốn nhiều công sức. Phùng Văn Bằng cùng đồng đội tìm cách thay đổi phương thức phát sáng, chuyển dần sang sử dụng ắc-quy và pin, đồng thời cải tiến bộ phận tạo chớp thành thiết bị chạy bằng điện.

Những cải tiến ấy giúp ánh sáng ổn định hơn và giảm bớt khó khăn cho người vận hành.

Theo tài liệu lịch sử của ngành bảo đảm hàng hải, các sáng kiến của tổ Phùng Văn Bằng tạo giá trị làm lợi tương đương 1.006 lần mức lương trung bình của một công nhân trong tổ lúc bấy giờ, được quy đổi khoảng 37.000 đồng.

Nhưng công việc của ông không chỉ diễn ra bên những ngọn đèn.

Cuộc sống ở các trạm xa bờ thiếu thốn và cô lập. Công nhân phải thay nhau trực, đối mặt với sóng gió, mưa bão và những tháng ngày xa gia đình. Một số người chưa biết chữ hoặc trình độ văn hóa còn thấp.

Phùng Văn Bằng chèo thuyền đến các trạm, tổ chức dạy chữ và hướng dẫn nghiệp vụ cho đồng đội. Nhà đèn dần trở thành nơi làm việc, nơi học tập và cũng là không gian sinh hoạt chung của những người công nhân ngoài cửa biển.

Tổ đèn Nam Triệu do ông phụ trách trở thành một trong những tổ lao động xã hội chủ nghĩa đầu tiên của Hải Phòng và miền Bắc.

Ngày 3 tháng 5 năm 1962, Phùng Văn Bằng được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Đúng một năm sau, ngày 3 tháng 5 năm 1963, ông được tuyên dương Anh hùng Lao động.

Khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, người công nhân gác đèn được căn dặn cùng anh em giữ cho ánh sáng hoạt động tốt, không để đèn tắt, bảo đảm tàu bè ra vào cảng an toàn.

Lời căn dặn ấy càng trở nên nặng nề khi chiến tranh lan ra miền Bắc.

Từ năm 1965, Hải Phòng trở thành một trong những mục tiêu đánh phá quan trọng của không quân Mỹ. Cảng Hải Phòng là cửa ngõ tiếp nhận hàng hóa, nhiên liệu và vật tư phục vụ sản xuất, quốc phòng. Vì vậy, giữ luồng tàu thông suốt cũng có nghĩa là bảo vệ một tuyến chi viện chiến lược.

Đến đầu năm 1966, lượng xăng dầu được tiếp nhận qua đường biển tại Hải Phòng vào khoảng 300.000 tấn mỗi năm. Trong khi máy bay đánh phá kho tàng, bến cảng và các công trình hàng hải, tàu vận tải vẫn phải tìm đường vào cảng.

Lực lượng tự vệ của ngành bảo đảm hàng hải và tổ đèn Nam Triệu, do Phùng Văn Bằng chỉ huy, vừa đánh trả máy bay, vừa duy trì hệ thống báo hiệu đúng quy định. Đèn vẫn phải được kiểm tra, phao vẫn phải nằm đúng vị trí và luồng tàu vẫn phải hoạt động.

Giữa thời chiến, một ánh đèn nhỏ ngoài biển không còn chỉ là thiết bị giao thông.

Nó chỉ đường cho tàu chở hàng của các nước bạn, cho những chuyến tàu mang máy móc, nhiên liệu và vật tư vào miền Bắc. Một phần hàng hóa từ cảng tiếp tục được chuyển đến các nhà máy, công trường và chiến trường miền Nam.

Người gác đèn không nhìn thấy nơi cuối cùng số hàng ấy sẽ đến. Công việc của ông chỉ là bảo đảm cho con tàu vượt qua cửa biển an toàn.

Nhưng chính sự chính xác và bền bỉ trong công việc thầm lặng ấy đã góp phần giữ cho mạch vận tải không bị cắt đứt.

Về sau, tên Phùng Văn Bằng được dùng đặt cho một ngọn đèn trên luồng hàng hải Hải Phòng và một con phố tại quê hương Thanh Miện. Đó là sự ghi nhớ dành cho người đã dành những năm tháng tuổi trẻ giữa sóng gió cửa Nam Triệu.

Trong chiến tranh, người ta thường nhìn lên bầu trời để thấy máy bay hoặc nhìn ra chiến trường để thấy những người lính. Nhưng ngoài cửa biển Hải Phòng còn có những con người âm thầm nhìn vào từng ngọn đèn.

Bởi họ hiểu rằng phía sau mỗi ánh sáng còn cháy là một con tàu có thể tìm thấy đường về.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn