Khác

"Người giữ kho" kiên cường giữa lòng chiến khu U Minh

Hành trình cống hiến bền bỉ và bản lĩnh chiến đấu quả cảm của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Đặng Văn Dầy – nguyên Đại đội trưởng thuộc Cục Hậu cần Quân khu 9. Hơn 10 năm bám trụ giữa vùng căn cứ U Minh khốc liệt, ông không chỉ tận tụy bảo quản, cấp phát hàng nghìn tấn vũ khí chi viện cho chiến trường mà còn trực tiếp chỉ huy đánh nhiều trận oanh liệt, giữ vững mạch máu hậu cần cách mạng.

Đồng Tháp22/10/2026Đoàn phường Tân Thới Hiệp (Phường Tân Thới Hiệp)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Đặng Văn Dầy sinh năm 1944, quê tại xã Phong Hòa, huyện Lấp Vò (sau thuộc huyện Lai Vung), tỉnh Đồng Tháp. Tháng 4 năm 1962, ông tham gia cách mạng và được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ kho vũ khí tại vùng căn cứ U Minh – nơi địa hình rừng đầm lầy hiểm trở nhưng chịu sự đánh phá, càn quét tàn khốc của kẻ thù.

Suốt hơn 10 năm bám trụ (1962 – 1975), Đặng Văn Dầy luôn cẩn trọng, tận tụy tiếp nhận, bảo quản và cấp phát an toàn hàng nghìn tấn đạn dược, khí tài cho các đơn vị chủ lực. Trong những thời điểm chiến dịch cao điểm như Mậu Thân 1968, chiến dịch năm 1972 hay đại thắng Xuân 1975, ông cùng đồng đội làm việc quên mình. Có những đợt cao điểm chỉ trong 10 ngày, ông đã tiếp nhận và phân phối chính xác tới 300 tấn hàng hóa hậu cần.

Không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu cần thầm lặng, ông còn là người chỉ huy chiến đấu gan dạ mỗi khi kho tàng bị uy hiếp. Ông đã trực tiếp chỉ huy và tham gia hơn 30 trận đánh, diệt và làm bị thương gần 300 tên địch để bảo vệ căn cứ. Các chiến công tiêu biểu gồm:

  • Trận Rạch Bà Thầy (Tháng 12/1970): Trước nguy cơ giặc đóng chốt uy hiếp khu kho, ông chỉ huy đơn vị chủ động chế tạo đạn phóng và tập kích liên tục, tiêu diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch, phá hủy 5 khẩu pháo, buộc đối phương phải tháo chạy.

  • Trận đánh thủy đội càn quét (Tháng 4/1971): Khi địch dùng tàu chiến chở quân đánh vào căn cứ, ông bình tĩnh gài mìn đánh chìm 1 tàu, diệt hơn 30 tên và thu toàn bộ vũ khí. Những ngày sau đó, ông tiếp tục chỉ huy đánh chìm thêm 3 tàu chiến khác, bẻ gẫy hoàn toàn trận càn quét của địch.

  • Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, ông vinh dự được thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 2 hạng Ba, 14 danh hiệu Dũng sĩ cùng nhiều bằng khen. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, khi đang là Thiếu úy, Đại đội trưởng thuộc Cục Hậu cần Quân khu 9, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    "Người giữ kho" kiên cường giữa lòng chiến khu U Minh | Câu chuyện thời hoa lửa