NGƯỜI GIỮ LỬA BÊN DÒNG SÔNG TRÀ LÝ
Trong gia đình tôi, người mà tôi ngưỡng mộ nhất không phải là một siêu anh hùng trong phim ảnh, mà chính là ông ngoại – người cựu chiến binh Nguyễn Văn Đăng.
Với tôi, ông không chỉ là người ông hiền từ, mà còn là một "nhân chứng sống" cho một thời hoa lửa của dân tộc.
Ông tôi năm nay đã ở tuổi xế chiều, mái tóc bạc trắng như cước, vầng trán hằn sâu những nếp nhăn của thời gian và những vất vả của cuộc đời.
Đôi bàn tay ông to bè, thô ráp, chai sần vì bao năm cầm súng bảo vệ Tổ quốc rồi lại cầm cày cuốc xây dựng quê hương. Nhưng đôi bàn tay ấy mỗi khi xoa đầu tôi lại ấm áp vô cùng.
Mỗi dịp lễ, ông lại diện bộ quân phục cũ màu xanh lá mạ. Những chiếc huy chương trên ngực áo ông lung linh như kể lại những câu chuyện về một thời trẻ trai oanh liệt.
Năm 20 tuổi, giữa lúc quê hương Hưng Yên và Vũ Phúc đang gồng mình dưới làn bom đạn, chàng thanh niên Nguyễn Văn Đăng đã viết đơn tình nguyện. Hãy tả lại cảnh ông rời xa lũy tre làng, xa bà ngoại (lúc ấy còn trẻ) để lên đường.
Không cần những chiến công lừng lẫy, ông kể về những đêm trực chiến bên mâm pháo, bầu trời rực sáng vì hỏa châu chứ không phải ánh trăng. Những lúc ấy, nỗi nhớ nhà, nhớ ruộng đồng chỉ biết gửi vào tay súng.
Ông cùng đồng đội bám trụ tại những "tọa độ lửa". Dù mưa bom bão đạn, ông vẫn kiên cường giữ vững vị trí để bảo vệ bầu trời bình yên cho quê nhà.
Hòa bình lập lại, ông trở về không một chút kiêu ngạo. Ông lại là người nông dân chất phác của phường Vũ Phúc.
Ông tham gia các công việc của địa phương, giúp đỡ những người thương binh khác. Đặc biệt nhất là hình ảnh ông thường xuyên giáo dục con cháu về lòng yêu nước.
Kể về một kỷ niệm nhỏ: Một buổi tối hè, ông cháu ngồi dưới sân, ông kể chuyện chiến đấu trong tiếng dế mèn nỉ non, truyền ngọn lửa truyền thống cho tôi.
Câu chuyện của ông ngoại không chỉ là lịch sử của riêng ông, mà là của cả một thế hệ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Tôi thầm hứa sẽ học tập thật giỏi, trở thành một "Khánh Vân" ngoan ngoãn, tài năng để xứng đáng là cháu ngoại của người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Ông ngoại ơi, ông mãi là niềm tự hào, là người giữ lửa vĩ đại nhất trong lòng cháu!
Mỗi khi kể về thời chiến, mắt ông ngoại tôi lại sáng rực lên một vẻ kỳ lạ. Giọng ông trầm ấm, lúc hào hùng khi nói về những trận đánh, lúc lại bùi ngùi khi nhắc đến những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường xanh cỏ. Tôi ngồi tựa đầu vào vai ông, hít hà mùi mồ hôi pha lẫn mùi nắng gió của người già, cảm thấy những trang sách lịch sử khô khan trên lớp bỗng trở nên sống động và gần gũi đến lạ thường...
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tôi cất chiếc ba lô vào góc tủ nhưng chưa bao giờ cất đi tinh thần của một người lính. Trên mảnh đất Vũ Phúc ven sông Trà Lý, ông vẫn miệt mài với luống rau, bờ ruộng. Ông dạy tôi rằng: 'Làm người lính thì phải biết giữ nước, làm người dân thì phải biết giữ làng'. Sự hy sinh thầm lặng của ông không được khắc trên bia đá, nhưng nó đã khắc sâu vào trái tim của mỗi người dân nơi đây."*



