NGƯỜI GIỮ LỬA” PHẠM HỮU THỪA
Tôi sinh ra và lớn lên từ cái nôi Đồng Khởi anh hùng – nơi mà từng tấc đất, hàng dừa đều thấm đẫm dấu chân và mồ hôi của bao thế hệ đi trước. Ở đó, ông cha tôi đã gửi trọn cả tuổi xuân và sinh mệnh để giữ vững lời thề độc lập, tự do. Trong những con người thầm lặng mà kiên cường ấy, đồng chí Phạm Hữu Thừa như một tên tuổi sáng lên bởi sự bình dị và lòng son sắt. Ông đã đi qua thời hoa lửa với một tâm hồn trong trẻo, để lại phía sau ánh sáng của niềm tin, nghĩa tình và một câu chuyện đáng được kể lại bằng tất cả sự trân trọng.
Tuổi trẻ Đồng Khởi và một thời hoa lửa.
Đồng chí Phạm Hữu Thừa (hay còn gọi là Hai Thừa) vinh dự được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam khi mới 19 tuổi, là người trực tiếp nhận nhiệm vụ triển khai Nghị quyết của Trung ương về thí điểm xây dựng lực lượng thanh niên xung phong giải phóng miền Nam tại huyện Giồng Trôm, từ đó phát triển mạng lưới thanh niên xung phong rộng khắp toàn tỉnh. Ông chia sẻ: làm công tác Đoàn là một niềm tự hào và may mắn lớn lao, bởi được Đảng tin tưởng giao cho sứ mệnh lịch sử – tiếp cận, tập hợp và dẫn dắt thanh niên, lực lượng nòng cốt của đất nước, đội hậu duệ vững chắc của Đảng. Thời điểm ấy, bom đạn còn dày đặc, việc vận động thanh niên đứng lên đấu tranh vô cùng gian nan. Cán bộ Đoàn phải đến từng ấp, từng nhà để thuyết phục, khích lệ lớp trẻ dấn thân vì độc lập dân tộc.
Dẫu khó khăn chồng chất, khí thế và lòng yêu nước của thanh niên thời ấy vẫn luôn sục sôi. Lòng căm thù giặc, khát vọng giành lại độc lập, tự do đã thôi thúc họ quyết tâm bước vào cuộc đấu tranh. Từ tinh thần ấy, ngọn lửa Đồng Khởi bùng lên; nam nữ thanh niên Bến Tre cùng nhau đứng dậy, sát cánh chiến đấu, góp phần làm nên trang sử oanh liệt của quê hương. Ông kể lại, thời ấy vô cùng gian khổ. Cán bộ Đoàn như ông phải đi vào từng ấp chiến lược để vận động, giáo dục những thanh niên còn chưa giác ngộ, thậm chí có người sợ tiếng súng đạn, bom mìn. Thế nhưng sau quá trình kiên trì thuyết phục, nhiều thanh niên đã trưởng thành, gia nhập lực lượng cách mạng, chiến đấu dũng cảm và trở thành những người lính Cụ Hồ. “Trong chiến tranh, nhiều cán bộ, đoàn viên bị bắt, bị tù đày nhưng khi trở về lại tiếp tục chiến đấu và hy sinh anh dũng. Hơn 30 năm làm công tác Đoàn, với tôi đó như một trường đại học lớn, rèn luyện tôi trưởng thành,” ông Hai Thừa xúc động chia sẻ.
Ông vẫn không quên tấm gương của đồng chí Lê Trung Kiên – chàng thanh niên 18 tuổi đã quyết tâm tòng quân sau khi cha và chị gái bị địch sát hại. Trong một trận chiến bảo vệ kho vũ khí ở biên giới, ông Kiên cùng năm đồng đội đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng chống lại cả một đại đội biệt kích Mỹ, hy sinh trên công sự với bàn tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn. Hay câu chuyện về một đoàn viên khác: cha bị giặc Pháp giết, mẹ tảo tần nuôi con, bản thân anh có vợ con nhưng lại vô cùng sợ máy bay Mỹ, cứ chiều xuống lại trốn trong hầm sau bụi tre lớn. Có lúc Chi đoàn đề nghị khai trừ anh vì quá nhút nhát. Khi ấy, ông Hai Thừa tổ chức họp Chi đoàn ngay trước cửa hầm của anh vào buổi tối. Giữa lúc họp, máy bay địch xuất hiện, ai nấy đều chui xuống hầm, anh cũng theo xuống và dần dần bớt sợ. Sau đó, ông Thừa cho anh tập bắn chim để quen tiếng nổ; nhờ vậy một thời gian sau anh đã mạnh dạn đăng ký nhập ngũ. Những người thanh niên vốn chỉ quen với việc cầm bút hay những rặng dừa yên ả, nay lại có thể nghĩ ra nhiều cách đánh thông minh và táo bạo: phá cầu đường ngăn địch càn quét, cưa gầm cầu nông thôn rồi cắm chông nhọn dưới lòng sông; khi xe địch đi qua, cầu sập và quân địch rơi xuống trúng bãi chông đã bố trí sẵn. Đặc biệt, trong thời khắc lịch sử ấy, Bến Tre trở thành một mắt xích chiến lược trong tuyến vận tải vũ khí Bắc – Nam, phục vụ cho các “con tàu không số” – những con tàu huyền thoại chở lửa chiến đấu vượt đại dương. Hơn 4.000 thanh niên, dưới sự lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ của cán bộ Đoàn, đã hăng hái tham gia vận chuyển vũ khí từ Thạnh Phong, Thạnh Phú lên Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm, rồi từ đó lan tỏa đi khắp các chiến trường. Công sức thầm lặng nhưng kiên cường của họ đã góp phần quyết định vào việc chi viện kịp thời, đưa lửa chiến đấu từ hậu phương đến mặt trận, ghi dấu một trang sử hào hùng của Bến Tre trong kháng chiến.
Dấu ấn người Bí thư tỉnh đoàn trong buổi đầu tái thiết và tấm lòng của người Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong tỉnh.
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam liền một dải, nhân dân hân hoan trong niềm vui sum họp. Hòa bình trở lại, những người thanh niên từng cầm súng bước vào một trận tuyến mới: khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết cuộc sống và bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Từ tro tàn chiến tranh, mọi thứ phải bắt đầu lại từ con số không. Và chính trong thời khắc chuyển giao đầy thử thách ấy, người thanh niên trẻ Phạm Hữu Thừa được tin tưởng giao trọng trách mới: Bí thư Tỉnh Đoàn Bến Tre (giai đoạn 1978 – 1983). Cái khó của giai đoạn ấy không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà còn là sự thiếu hụt niềm tin đất nước có thể hồi sinh sau những năm tháng oằn mình dưới bom đạn. Với tinh thần của một cán bộ Đoàn từng đi qua lửa đạn, ông hiểu rằng: muốn đi xa, phải khơi dậy ngọn lửa của tuổi trẻ trước tiên. Chỉ khi thanh niên tin vào chính mình, vào tương lai đất nước, thì hành trình tái thiết mới thực sự bắt đầu. Ông Hai Thừa nhớ lại khí thế thanh niên thời ấy mạnh mẽ đến lạ. Ai cũng khát khao góp một phần công sức để dựng xây quê hương. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện chia nhau từng nhóm: nhóm lên miền Đông Nam Bộ khai thác đá mang về xây cầu, sửa đường; nhóm vào nông trường khai hoang, phục hóa dừa, trồng lúa, làm hợp tác xã. Cũng có những đội thanh niên xung phong đào những con kênh dài hàng chục ki-lô-mét, dựng trại ăn ở suốt nhiều tháng trời để phục vụ sản xuất, mở đường cho cuộc sống mới. Nhìn lại hành trình đã qua, ông Hai Thừa bộc bạch: mỗi khi gặp lại nhau, anh em cán bộ Đoàn thường nửa đùa nửa thật, rằng “Nếu có tái sinh ở kiếp sau, tôi vẫn chọn làm cán bộ Đoàn”.
Những năm tháng sau này, khi trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong tỉnh, đồng chí Phạm Hữu Thừa lại chọn cho mình một con đường khác – lặng lẽ, bền bỉ nhưng đầy nghĩa tình: chăm lo cho những người đồng đội đã từng cùng ông đi qua thời hoa lửa, cùng sống chết vì độc lập tự do. Ông đã vận động nhiều nguồn lực trong và ngoài tỉnh để xây mới 159 căn nhà tình nghĩa, “Mái ấm đồng đội”; tổ chức thăm hỏi, tặng hơn 20.000 phần quà cho Cựu Thanh niên xung phong nghèo, neo đơn, gia đình thương binh, liệt sĩ… với tổng trị giá hơn 3,7 tỷ đồng, giúp 398 hộ thoát nghèo và ổn định cuộc sống. Ông cũng đề xuất và phát động 100% hội viên đăng ký rèn luyện đạo đức, phẩm chất theo gương Bác Hồ với mô hình “Thờ ảnh Bác Hồ” – phong trào sau đó được Trung ương Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam biểu dương và nhân rộng trên toàn quốc. Đặc biệt, chính ông đã tự nguyện dành toàn bộ hơn 800 triệu đồng – khoản kinh phí được hỗ trợ trong thời gian giữ cương vị Chủ tịch Hội – để đóng góp vào Quỹ “Nghĩa tình đồng đội”. Nghĩa cử ấy đã góp phần quan trọng giúp Hội và địa phương thực hiện hiệu quả công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho những người đã cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.


