NGƯỜI GIỮ LỬA THANH XUÂN
Chiều hôm đó, trời Phú Quới dịu hẳn sau cơn mưa nhẹ. Con đường nhỏ dẫn vào nhà bác Trần Văn Ký còn đọng nước, hai bên là những hàng dừa nghiêng bóng xuống con kênh lặng lờ trôi. Tôi theo chân mấy anh trong đoàn đến thăm bác – người cựu Thanh niên xung phong mà bà con trong vùng vẫn thường nhắc bằng tất cả sự kính trọng.
Căn nhà của bác nằm nép mình dưới tán cây xanh mát. Vừa thấy khách, bác từ trong nhà bước ra với nụ cười hiền hậu. Dáng bác giờ đã chậm chạp vì tuổi tác, nhưng ánh mắt vẫn sáng và giọng nói thì ấm áp lạ thường.
Sau chén trà thơm còn bốc khói, câu chuyện của bác bắt đầu bằng những ký ức đã nằm sâu trong năm tháng.
Bác đưa tay chỉ lên tấm ảnh cũ treo trên vách:
“Đây là đồng đội của bác hồi còn trong lực lượng Thanh niên xung phong đó con…”
Tôi ngước nhìn. Trong tấm ảnh đã ngả màu là những chàng trai, cô gái tuổi còn rất trẻ. Ai cũng cười tươi dù giữa rừng sâu, quần áo lấm lem bùn đất.
Bác nhìn thật lâu rồi chậm rãi kể.
Năm ấy, chiến tranh còn ác liệt lắm. Bác vừa tròn hai mươi tám tuổi thì tình nguyện tham gia lực lượng Thanh niên xung phong. Ngày lên đường, mẹ bác khóc rất nhiều.
“Bả thương con trai duy nhất,” bác cười buồn, “nhưng vẫn tiễn bác đi vì ai cũng hiểu lúc đó đất nước cần thanh niên.”
Những ngày đầu vào đơn vị là chuỗi ngày gian khổ mà bác không bao giờ quên. Ban ngày mở đường, tải lương thực, chuyển đạn cho bộ đội. Ban đêm hành quân xuyên rừng. Có hôm trời mưa như trút nước, quần áo ướt sũng từ sáng tới tối.
Bác kể:
“Hồi đó cực lắm, nhưng vui. Anh em sống chết có nhau.”
Có lần đơn vị bác đang vận chuyển lương thực thì máy bay địch bất ngờ xuất hiện. Tiếng bom nổ rung chuyển cả cánh rừng. Mọi người nằm rạp xuống đất.
Sau đợt bom, một người đồng đội bị thương nặng ở chân.
Không ai bảo ai, mấy thanh niên trong đội thay nhau cõng đồng đội băng rừng suốt đêm để tìm nơi cứu chữa.
Bác nói:
“Lúc đó chỉ nghĩ làm sao cứu được đồng đội mình thôi.”
Rồi bác lặng đi.
Có lẽ những ký ức chiến tranh chưa bao giờ rời khỏi tâm trí người lính năm xưa.
Bác kể tiếp, năm 1979 bác cùng đơn vị sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế tại Prey Veng. Đó là khoảng thời gian vô cùng khắc nghiệt.
Rừng sâu, sốt rét, thiếu ăn.
Nhiều hôm cả đơn vị chỉ có chút lương khô chia nhau cầm bụng.
Nhưng điều khiến bác đau lòng nhất không phải là đói hay bệnh tật, mà là sự hy sinh của đồng đội.
Bác nhớ như in một người bạn thân tên Ba Lành.
“Hôm đó ảnh còn ngồi ăn cơm với bác, vậy mà sau trận càn thì không còn nữa…”
Giọng bác nghẹn lại.
Ngoài sân, gió chiều thổi qua hàng cau nghe xào xạc.
Tôi thấy đôi mắt già nua của bác đỏ hoe khi nhắc đến những người đã nằm lại nơi chiến trường.
“Có những người chưa kịp về thăm má mình lần cuối…” bác nói nhỏ.
Chiến tranh kết thúc, bác trở về quê nhà trong niềm vui đoàn tụ. Nhưng quê hương lúc ấy còn nghèo lắm. Ruộng đồng hoang hóa, nhà cửa đổ nát sau chiến tranh.
Thế là bác lại tiếp tục lao động.
Không còn cầm súng, bác cầm cuốc.
Không còn hành quân, bác đi khai hoang, đắp bờ, trồng lúa.
Bác cười:
“Hồi trẻ góp sức đánh giặc, hòa bình thì góp sức dựng quê hương.”
Nhiều năm trôi qua, bác vẫn giữ thói quen giúp đỡ bà con xung quanh. Ai khó khăn bác đều sẵn lòng hỗ trợ. Đặc biệt, bác luôn đau đáu về những đồng đội cũ.
Khi Nhà nước có chính sách dành cho Thanh niên xung phong, bác cùng nhiều người đi tìm hài cốt đồng đội đã hy sinh.
“Có lần đào được chiếc tăng võng cũ, tụi bác ai cũng khóc…” bác kể.
Tôi im lặng nghe câu chuyện của bác giữa buổi chiều đang dần xuống.
Ánh nắng cuối ngày chiếu lên mái tóc bạc trắng của người cựu Thanh niên xung phong. Thời gian đã làm lưng bác còng xuống, nhưng không thể làm phai đi tinh thần của một thế hệ từng sống và chiến đấu hết mình cho Tổ quốc.
Trước khi chúng tôi ra về, bác nhìn tôi rồi nhẹ nhàng nói:
“Bác chỉ mong tụi con bây giờ sống tử tế, biết thương quê hương đất nước và quý trọng hòa bình.”
Tôi gật đầu.
Bước ra khỏi căn nhà nhỏ bên dòng kênh yên bình, lòng tôi bỗng thấy nghèn nghẹn.
Bởi tôi hiểu rằng, những con người như bác Trần Văn Ký đã dành cả tuổi trẻ để đổi lấy cuộc sống bình yên cho thế hệ hôm nay.
Và những câu chuyện ấy sẽ còn được kể mãi – như một ngọn lửa âm thầm soi sáng cho những thế hệ mai sau.



