NGƯỜI GIỮ LỬA TRUNG KIÊN VÀ DI SẢN CỦA Ý CHÍ-HV
NGƯỜI GIỮ LỬA TRUNG KIÊN VÀ DI SẢN CỦA Ý CHÍ Cụ Nguyễn Văn Thanh, tên thật là Nguyễn Văn Loan sinh ngày 15/2/1932 Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nay là xã Tân trụ, tỉnh Tây Ninh.
NGƯỜI GIỮ LỬA TRUNG KIÊN VÀ DI SẢN CỦA Ý CHÍ
Cụ Nguyễn Văn Thanh, tên thật là Nguyễn Văn Loan sinh ngày 15/2/1932 Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nay là xã Tân trụ, tỉnh Tây Ninh.
Lịch sử của vùng đất Long An và Tây Ninh được dệt nên bởi những cuộc đời phi thường của những con người bình dị, và cụ Nguyễn Văn Thanh (tên thật là Nguyễn Văn Loan) chính là một biểu tượng như thế. Sinh ngày 15/2/1932 tại xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, cuộc đời cụ khởi đầu trong sự khắc nghiệt khi người mẹ kính yêu qua đời sớm. Thiếu vắng hơi ấm mẫu tử, cậu bé Loan đã sớm phải cùng cha gánh vác nỗi lo cơm áo. Hình ảnh một đứa trẻ gầy gò, hằng ngày lội bùn chăn vịt thuê, làm mướn cho địa chủ để có tiền phụ cha nuôi em trai đã trở thành ký ức không thể nào quên. Năm 12 tuổi, cái nghèo cùng cực đã buộc cụ phải vĩnh viễn nghỉ học, dấn thân vào cuộc mưu sinh nhọc nhằn, ai thuê gì làm nấy, từ việc đồng áng đến chăn trâu, không quản ngại nắng mưa dầm dề.
Tuy nhiên, chính trong sự bóc lột của chế độ cũ đã khơi dậy lòng căm thù giặc và ý thức cách mạng trong cụ. Năm 1944, khi mới 12 tuổi, cụ Loan đã thể hiện sự nhanh trí phi thường. Phát hiện quân địch dùng xuồng chở lính đi lùng sục cán bộ, cụ đã bí mật lặn xuống sông làm chìm chiếc ghe của các anh du kích để họ có lý do thoát thân, đồng thời mưu trí cất giấu các bao đạn của ta vào nơi an toàn. Khi bị giặc bắt kề súng vào đầu tra hỏi, cụ vẫn giữ sự im lặng sắt đá, chỉ trả lời duy nhất câu "không biết", khiến chúng phải thả người. Người cha kính yêu, vốn mang nặng lòng yêu nước, đã truyền dạy cho cụ: "Đời cha con mình khổ vì làm thuê làm mướn, chỉ có đi cách mạng mới mong có ngày độc lập và thoát cảnh trâu ngựa".
Tháng 4 năm 1949, mang theo lời dặn của cha, cụ Loan chính thức nhập ngũ tại trạm Bình Đức. Tại đây, cụ bất ngờ gặp lại người em trai ruột cũng đang tham gia kháng chiến. Từ đó, cụ lấy bí danh là Nguyễn Văn Thanh, bắt đầu những năm tháng làm chiến sĩ liên lạc mưu trí tại Huyện đội Thủ Thừa. Năm 1951, cụ Thanh đã lập chiến công thầm lặng khi dẫn cán bộ băng qua lộ Đông Dương – tuyến đường tử thần luôn dày đặc bóng giặc – một cách an toàn tuyệt đối. Năm 1952, cụ sa vào tay giặc và bị giam cầm 15 ngày đêm. Dù tên đồn trưởng dùng đủ chiêu bài tra tấn và dụ dỗ, cụ vẫn giữ vững khí tiết, nhất quyết không khai báo bí mật cơ sở. Ngay sau khi được bảo lãnh ra ngoài, cụ đã bí mật trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.
Năm 1964, một tai nạn vũ khí trong lúc thử nghiệm đã khiến cụ hỏng vĩnh viễn một mắt. Thế nhưng, khiếm khuyết thể xác không thể ngăn cản tâm hồn rực lửa. Đỉnh cao là trận đánh năm 1970 tại vùng đất Đức Huệ, với cương vị người chỉ huy, dù chỉ nhìn bằng một con mắt còn lại, cụ Thanh đã mưu trí dàn trận, chỉ huy đơn vị đánh tan một tiểu đoàn biệt kích tinh nhuệ của địch. Với những hy sinh to lớn, cụ đã được trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Ba và Huân chương Chiến sĩ vẻ vang. Hiện nay, ở tuổi 94, cư ngụ tại khu phố 8, phường Long An, tỉnh Tây Ninh, cụ vinh dự nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng (năm 2023). Niềm hạnh phúc nhất của cụ ở tuổi xế chiều là thấy người cháu ngoại trai đã viết đơn tình nguyện phục vụ quân đội lâu dài, tiếp nối ngọn lửa yêu nước mà cụ đã dành cả đời để giữ gìn.
Càng đi sâu vào cuộc đời cụ Nguyễn Văn Thanh, tôi càng cảm thấy sự nhỏ bé của mình trước một nhân cách lớn. Điều khiến tôi xúc động nhất chính là hành trình từ một cậu bé chăn vịt mồ côi mẹ đến một Đảng viên kiên trung 65 năm tuổi Đảng. Cụ Thanh đã chứng minh cho thế hệ trẻ thấy rằng, cái nghèo không thể tước đi nhân cách và lòng dũng cảm. Tôi thực sự nể phục sự im lặng sắt đá của cụ trong nhà tù năm 1952; đó là minh chứng cho một lòng trung thành tuyệt đối vào lý tưởng của Đảng. Hình ảnh người chỉ huy mất một mắt nhưng vẫn chỉ huy đánh thắng tiểu đoàn biệt kích năm 1970 là bài học vô giá về nghị lực và ý chí "tàn nhưng không phế". Ở tuổi 94, cụ vẫn giữ trọn tác phong người lính, là "ngọn hải đăng" dẫn lối cho con cháu. Việc cụ truyền được lửa yêu nước cho cháu ngoại trai là một thành công vĩ đại, minh chứng cho sự tiếp nối thiêng liêng giữa các thế hệ. Cụ Thanh không chỉ là một nhân chứng sống của lịch sử, cụ là hiện thân của sức mạnh tinh thần Việt Nam – một sức mạnh được tôi luyện từ máu và nước mắt để tỏa sáng giữa hòa bình hôm nay.


