NGƯỜI GIỮ LỬA TUỔI MƯỜI LĂM GIỮA ĐẠI NGÀN .
Tôi đến tìm bà Ha Ra Quanh Thị Bôn vào một buổi sáng vùng cao se lạnh. Không có những huân chương lấp lánh trưng bày nơi phòng khách, cũng chẳng có những câu chuyện đao to búa lớn về những trận công đồn diệt viện. Người phụ nữ sinh năm 1959 ấy đón tôi bằng cái gật đầu mộc mạc và đôi bàn tay sạm màu đất rẫy – đôi bàn tay hơn nửa thế kỷ trước đã từng nhóm lên sự sống cho cả một đơn vị giữa rừng già.
Năm 1974, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn dồn dập chuẩn bị cho ngày toàn thắng. Ở tuổi mười lăm, trạc tuổi những cô học trò cấp hai bây giờ, bà Bôn đã rời buôn làng bước chân lên cứ. Nhiệm vụ của cô thiếu nữ nhỏ nhắn ngày ấy gói gọn trong hai chữ: nấu ăn.
Tưởng chừng đó là công việc bình lặng phía sau tay súng, nhưng lắng nghe bà kể, tôi mới giật mình nhận ra gian bếp thời chiến cũng là một chiến hào sinh tử:
“Mười lăm tuổi, người ta bảo tuổi ăn tuổi ngủ, còn mình thì chỉ lo canh từng nồi cơm cho bộ đội. Nấu ăn thời đó cực và nguy hiểm lắm. Bếp phải khoét sâu vào vách đất, đắp đường dẫn khói luồn qua các rãnh phủ cành cây tươi để khói bay là là sát mặt đất. Chỉ cần sơ ý để một sợi khói mảnh bốc thẳng lên ngọn cây, máy bay trinh sát nó phát hiện tọa độ là bom dội xuống nát cả cánh rừng.”
Gian lao không chỉ đến từ bom đạn rình rập, mà còn từ những cơn đói cồn cào bủa vây căn cứ. Khi đường tiếp tế bị phong tỏa, người con gái mười lăm tuổi lại lầm lũi vác rựa luồn rừng, bới từng gốc củ mài, hái từng đọt rau tàu bay, măng nứa về độn vào chảo cơm quân dụng:
“Nhiều đợt đói quay quắt, hạt gạo đếm được trên đầu ngón tay. Mấy chị em nuôi quân chỉ dám húp bát nước luộc rau dại chan chút muối hạt, để dành từng nắm cơm chắc dạ cho các anh mang súng ra trận địa. Nhìn các anh ăn ngon lành rồi cười, dẫu bụng mình đang sôi cồn cào nhưng trong lòng thấy nhẹ nhõm lạ lùng.”
Chiến tranh đi qua, bà Bôn trở về làm người phụ nữ bình dị của buôn làng, ngày ngày lên rẫy tỉa bắp, chăm lo cho đàn con cháu. Tuổi già kéo theo những cơn đau nhức mình mẩy do năm tháng dầm mưa, chịu sương muối buốt giá nơi rừng sâu năm ấy. Nhưng mỗi lần có đoàn viên thanh niên ghé thăm, bà lại cười xòa, bảo rằng mình sống sót trở về nhìn thấy làng bản yên vui, điện đường sáng choang là đã quá đỗi may mắn so với bao người đã ngã xuống.
Rời căn nhà của bà khi nắng trưa đã đứng bóng, hình ảnh người thiếu nữ mười lăm tuổi cúi mình bên bếp lửa dã chiến vẫn đọng lại nguyên vẹn trong tôi. Sự cống hiến cho độc lập dân tộc đôi khi không phải là những phát súng rền vang, mà là sự bền bỉ của những người như bà Ha Ra Quanh Thị Bôn – người đã dùng trọn tuổi trăng rằm của mình để giữ cho ngọn lửa nuôi quân không bao giờ tắt.



