NGƯỜI GÓP PHẦN KHẮC HỌA CHÂN DUNG SỰ KIỆN VÀ NHÂN VẬT
Một số người cho rằng, ghi chép văn học nằm trong loại hình ký. Người ghi chép phải chắp nối, đối chiếu, cân nhắc từng chi tiết sự việc có liên quan đến sự kiện và nhân vật có thật trong đời sống, trong các giai đoạn lịch sử, để đưa vào bài viết của mình; đồng thời phải chịu trách nhiệm về những nội dung đã ghi chép trước xã hội, trước pháp luật. Ba mươi năm nay, nhà văn Hà Lâm Kỳ một cựu chiến binh chống Mỹ đã kiên trì, say mê, âm thầm làm công việc đó. Những bài viết này là khởi nguồn các truy
Hà Lâm Kỳ có hai cuốn sách về thể loại này đã được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in và phát hành (“Một góc nhìn” năm 2006, “Gặp và ghi” năm 2014). Trong tương lai gần, là tập: “Người trong cuộc”, sẽ được xuất bản. Ngoài ra anh có bài viết được in trên các báo Trung ương và địa phương, đều xoay quanh thể loại ghi chép này. Với cách nhìn của một người làm văn chương, nhiều cảm hứng với lịch sử và văn hóa, lại có nhiều kinh nghiệm và vốn sống thực tế, anh luôn canh cánh với sự kiện, sự việc, con người gắn với chính quê hương mình, mong muốn chuyển tải đến thế hệ sau những sự thật lịch sử sống động. Hà Lâm Kỳ đã khéo léo gọi đấy là “Gặp và ghi”, là “Một góc nhìn”. Chính nhờ cái chất lịch sử được bao bọc trong chất văn học mà ghi chép của anh được xã hội và bạn đọc quan tâm nhiều hơn.
Tiếp sau truyện dài“Kỷ vật cuối cùng” (NXB Kim Đồng 1991, NXB Hội nhà văn tái bản 2008), anh có nhiều bài đăng trên các báo địa phương và trung ương, với những ghi chép đẫm chất sử và văn học. Tiêu biểu là các bài: “Hoàng Văn Thọ sống mãi”, đăng trên báo Nhân dân cuối tuần số ra ngày 29.6.1997, bài: “Anh hùng liệt sỹ Hoàng Văn Thọ” in trong cuốn “Một góc nhìn” 2006. Những bài viết này làm sáng tỏ hành động anh hùng, sự quả cảm và tinh thần xả thân vì cộng đồng của người thiếu niên Hoàng Văn Thọ; đồng thời thể hiện rõ quan điểm không đồng tình với cách nhìn khắt khe, hạn hẹp của một số ít người khi đánh giá về hành động của Liệt sỹ Hoàng Văn Thọ. Sau nhiều cuộc hội thảo và xác minh của các đơn vị, cơ quan có thẩm quyền, liệt sỹ Hoàng Văn Thọ, nhân vật trong tác phẩm, cũng là nhân vật bằng xương bằng thịt ngoài đời, được Nhà nước Truy tặng Danh hiệu Anh hùng LLVT năm 1998. Nhân dân Đại Lịch đã xây dựng nhà thờ tôn vinh người Anh hùng của quê hương mình ngay tại trung tâm của xã nhà. Và đặc biệt, tác phẩm “Kỷ vật cuối cùng” đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 9 PTCS. Đó chính là thành công của nhà văn Hà Lâm Kỳ, mà sự khởi đầu thành côngtừ những ghi chép văn học.
Dưới ngòi bút Hà Lâm Kỳ, những trắc ẩn trong cuộc đời con người cụ thể, nhất là những nhân vật của lịch sử, trước những vấn đề tế nhị, đều được cân nhắc. Chẳng hạn như bài viết về cụ Trần Đình Khánh, người dân tộc Tày ở xã Việt Hồng huyện Trấn Yên. Ông là Chánh tổng dưới chế độ cũ, được giác ngộ cách mạng, toàn tâm toàn ý theo Việt Minh, làm cầu nối giữa cách mạng với quần chúng, trở thành vị Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Yên Bái và là Đại biểu Quốc hội khóa I năm 1946. Kháng chiến thắng lợi, rồi cải cách ruộng đất, Trần Đình Khánh đương nhiên là đối tượng của cả hai phía. Hà Lâm Kỳ viết: “Trần Đình Khánh bị đưa ra sân đình rồi đi cải tạo lao động ở một nơi xa, hạn chưa hết thì có lệnh của trên yêu cầu dừng lại. Sự dừng lại kéo dài, âm ỷ, đúng sai không rõ, khiến ai cũng khó hiểu”. Trang 247). Chắc hẳn phải suy nghĩ lắm Hà Lâm Kỳ mới viết như thế. ( “Chánh tổng Lương Ca Trần Đình Khánh trong cách mạng tháng 8 năm 1945” (Một góc nhìn. NXB Văn hóa dân tộc 2006, trang 247). Bài viết được Hội Thái học Việt Nam chọn, in trong cuốn sách “Đóng góp của nhóm ngôn ngữ Tày Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2006)
Một ví dụ khác về vấn đề này, khi anh viết về ông Lương Văn Ích, một trong 34 chiến sỹ của Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân như một “phát hiện” trong dòng chảy thời gian. Qua nhiều tài liệu, Hà Lâm Kỳ đã kỳ công làm rõ về cuộc đời đầy trắc ẩn của ông qua bài: “Khi các em đến với người lính già” đăng trên Báo Hoàng Liên Sơn ngày 18 tháng 12 năm 1989, đã gây xôn xao dư luận. Nhờ thế nhiều thanh niên, thiếu nhi Hoàng Liên Sơn lúc bấy giờ đã tìm đến ông và trở thành người bạn tâm giao cuối đời của ông. Ủy ban nhân dân tỉnh Hoàng Liên Sơn đã cho đón ông từ mái nhà tranh ở xóm Thanh Hùng, về cư trú tại khu tập thể giành cho cán bộ hưu trí cấp cao của tỉnh. Ông Lương Văn Ích được công nhận là Lão thành cách mạng. Huân chương Độc lập, để diễn tả tâm trạng và tấm lòng trung trinh với Đảng của ông Lương Văn Ích, Hà Lâm Kỳ viết: “Nhắc đến tấm Huân chương Độc lập hạng nhì và tấm Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, bác Ích bộc bạch: Mình có cái này, nghĩa là Đảng và dân không quên mình là được rồi” (Một góc nhìn. Trang 205). Ghi chép bằng chính cái tâm của người cầm bút và giữ nguyên tính chân thực của nhân vật, là điều Hà Lâm Kỳ đã làm được.
Với tư chất là người thầy giáo dạy văn chương, lại được rèn luyện trong quân ngũ,nơi chiến trường thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Hà Lâm Kỳ đã tự nguyện trở thành “thư ký của thời đại” dù trong hoàn cảnh nào. Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, anh đã có đam mê về văn học như một cái nghiệp của đời mình. Trong tập bản thảo “Thư Tháng Năm” đang trên bàn văn của mình, anh đã thể hiện điều đó như một phương châm cho cuộc sống. “Đi, Đọc, Học, Viết” luôn thúc dục anh như để mình không cũ cùng thời gian. Với thể loại ghi chép văn học, anh quả quyết: Phải ngồi trước mặt nhân chứng, phải lục tìm hết tài liệu liên quan. Còn khi viết, anh đòi hỏi: Viết cân nhắc, viết chắc chắn, luôn để sự việc gắn với không gian và thời gian của chính nó. Sự lô-gic của nhân vật với không gian cụ thể, nhiều chiều và tình cảm của chính tác giả với sự việc, đã làm cho ghi chép của Hà Lâm Kỳ có hơi thở cuộc sống; dù cho cuộc sống ấy đã diễn ra cách xa chúng ta hay đang hiện hữu. Có người nói Hà Lâm Kỳ ghi chép lịch sử bằng văn, hay nói cách khác, dùng văn để ghi chép lịch sử. Nhận xét này tôi cho là đúng.
Để có được những bài viết giá trị, Hà Lâm Kỳ đã phải chủ động tiếp cận, nhân vật trong điều kiện có thể, hoặc trong tình huống, bất thường anh đều có thể ghi nhớ và viết thành tác phẩm với một phương pháp riêng như đã nói ở trên. Nhiều câu chuyện trong “Gặp và ghi” (NXB Văn học 2014) đã chứng minh rõ điều này. Tiêu biểu là: “Câu chuyện giữa Bác Hồ và nhà thơ Tố Hữu”, “Thương nhớ Bác Tô” ( đồng chí Phạm Văn Đồng). Hà Lâm Kỳ đã năm lần được gặp Bác Võ Nguyên Giáp. Mỗi lần một cảm xúc, một trân trọng và kính yêu. Ghi chép “Những lần được ở bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp” có nhiều tình tiết cảm động. Tác giả ghi chép thật tỷ mỉ những câu chuyện, những lời dặn dò, và những câu đối thoại giữa Đại tướng với nhà văn và người cùng có mặt trong mỗi lần được về bên Người. Cũng qua những câu chuyện được tác giả ghi lại trong các lần gặp Bác Võ Nguyên Giáp, chúng ta hiểu sâu sắc hơn tình cảm của Bác với đồng bào Tây Bắc, hiểu về trận đánh bi hùng của cán bộ, chiến sỹ sư đoàn 312, khi công Đồn Nghĩa Lộ năm 1951; và tấn công giải phóng Nghĩa Lộ trong chiến dịch Tây Bắc của Đại đoàn quân tiên phong 308 năm 1952. Đọc ghi chép này, chúng ta hiểu sâu hơn những gì mà chính sử chưa ghi hết trong trang sách giáo khoa, thậm trí trong cả sách sử.
Ghi chép được chuyển tải bằng chất văn học trong các trang viết của Hà Lâm Kỳ, chính là phương tiện để chuyên chở sự thật lịch sử. Đầy đủ và ngắn gọn, toàn cảnh mà cụ thể, lịch lãm, khúc triết. Cái hồn cốt của sự kiện và nhân vật đều thoáng hiện ra trước tấm phông của câu chuyện.
Sớm có ý thức và sự ham mê tìm hiểu lịch sử nên mấy chục năm qua, Hà Lâm Kỳ đã nhiều lần tiếp xúc với hàng chục người trong cuộc, bất kể họ có hàm cấp hay thường dân, và ghi chép từ họ những câu chuyện, những sự việc, có ngày tháng, có minh chứng, thậm trí cả ghi âm, ghi hình, chụp ảnh. Tất cả chỉ nhằm một mục đích, cho bài ký sự, bài ghi chép, bài hồi ức có độ tin cậy, sinh động, nhân văn. Có thể kể ra đây tên tuổi của những người con trên đất Yên Bái một thời vang bóng đã trở thành nhân vật trong các tác phẩm ghi chép văn học của anh như: Nguyễn Quang Bích, Trần Đình Khánh, Ngô Minh Loan, Lãnh Năm, Đào Tiến Lộc, Hoàng Văn Vinh, Bùi Lạc, Lý Nủ Chu, Giàng Khua Kỷ, Hà Thiết Hùng, Bùi Đỉnh, Hoàng Hạc…
Với xã Đại Lịch quê hương, nhà văn Hà Lâm Kỳ đã giành tình cảm đặc biệt. Lời tự bạch trong cuốn sổ tay có tên “Bút tích, ghi lại” anh viết: “Làng sinh tôi trong khói lửa chiến tranh/ Tôi nặng nợ với Làng trăm năm không trả hết”. Xét cả về nghĩa bóng và nghĩa thực, thì lời thơ tự bạch là một món nợ về văn hóa tinh thần, tự anh nhận lấy. Có lẽ vì thế mà khi được nghỉ hưu, năm 2013, anh đã đề nghị Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã xây dựng loạt Bia Di tích kháng chiến do anh làm “Tổng đạo diễn”. Đề nghị có tính “sáng kiến, khởi đầu” của anh hợp với lòng dân, ý Đảng và bạn bè. Nhờ thế nhiều bia di tích đã được dựng lên trên mảnh đất Đại Lịch anh hùng. Anh nói với bạn bè về việc dựng bia thật giản dị: Trước là để tri ân các liệt sỹ và những người dân Đại Lịch đã ngã xuống, trong ba cuộc kháng chiến vì quê hương, vì đất nước, sau là để các thế hệ lớn lên tự biết mình phải sống như thế nào. Bia Di tích trận đánh Đèo Din, Bia di tích kháng chiến Đình làng Khe Liền, di tích Lán gốc Hồng nơi thành lập Chi bộ Đại Lịch năm 1947, Bia Di tích chiến thắng Lũng Bũm, Bia di tích lịch sử trường Đại Lịch, Nhà lưu niệm Anh hùng liệt sỹ Hoàng Văn Thọ…. Tất cả đều có những bài ghi chép văn học với đầy đủ tư liệu được công bố trên sách báo mà anh là tác giả. Hà Lâm Kỳ còn nhiều bài nghiên cứu văn hóa, tham luận Hội thảo về văn hóa, phản biện các đề tài khoa học về văn hóa và lịch sử do Hội đồng khoa học tỉnh Yên Bái tổ chức hàng năm. Đây là những đóng góp đáng kể của Hà Lâm Kỳ đối với Văn hóa, Lịch sử và Văn học nghệ thuật Yên Bái. Hà Lâm Kỳ xứng đáng là nhà văn, nhà văn hóa của quê hương Văn Chấn nói riêng và của tỉnh Yên Bái nói chung. Các lớp học trò, những người bạn, và mọi người đều trân trọng yêu quí Hà Lâm Kỳ, mến mộ anh vì sự giản dị, bền bỉ, kiên trì, hết lòng vì quê hương. Tôi tin rằng với những đam mê và trách nhiệm, tình yêu cuộc sống, Hà Lâm Kỳ một “Bộ đội Cụ Hồ” trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật trong thời kỳ hội nhập, sẽ tiếp tục hoàn thiện các bản thảo và xuất bản nhiều hơn những cuốn sách “ghi chép” của mình. Tôi tin một ngày nào đấy, Hà Lâm Kỳ sẽ cho ra mắt một tuyển tập ghi chép, đó là công trình khảo cứu có giá trị cả về Văn hóa Văn học và Lịch sử. Mọi người đang đón đợi tác phẩm mới của anh.



