NGƯỜI HỌC TRÒ TRỞ THÀNH THỦ KHOA HUÂN: TỪ BỆNH CÁCH ĐẾN BẢN HÙNG CA CHỐNG PHÁP
Trường Đại học Hải Dương
Sinh ra tại vùng đất Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang), Nguyễn Hữu Huân từ nhỏ đã nổi tiếng khắp vùng là một cậu học trò thông minh kiệt xuất, sở hữu tư chất sáng dạ và lòng ham học vô bờ bến. Bằng sự cần cù, trí tuệ thiên bẩm cùng ngọn lửa thi書 mài giũa qua bao năm tháng dưới mái trường làng, ông bước vào khoa thi Hương năm Nhâm Tý (1852) dưới thời vua Tự Đức và xuất sắc đỗ Đầu khoa (Thủ khoa) khi còn rất trẻ. Danh xưng "Thủ Khoa Huân" kính cẩn mà thân thương cũng từ đó gắn liền với tên tuổi ông, như một sự tôn vinh của xóm làng dành cho một tri thức nho học đỉnh cao, người mang theo niềm hy vọng lớn lao của dòng tộc và quê hương trên con đường khoa bảng.
Theo lẽ thường của xã hội phong kiến bấy giờ, danh vị Thủ khoa thi Hương sẽ là chiếc cầu đai vàng trải rộng, mở ra một sự nghiệp quan trường thênh thang với mũ áo bộc mịch, bổng lộc hứa hẹn và cuộc sống an nhàn nơi cung đình hay các phủ đường. Ông từng được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm Giáo thụ phủ Kiến An, đảm nhận việc giáo hóa và coi sóc học vấn cho sĩ tử trong vùng. Thế nhưng, vận mệnh dân tộc đã đặt ông trước một bước ngoặt lịch sử bi tráng khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Gia Định rồi nhanh chóng đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ. Tiếng đại bác tàn phá quê hương cùng cảnh đồng bào lầm than dưới gót giày viễn chinh đã làm rung chuyển tâm khảm của người trí thức yêu nước, buộc ông phải đưa ra sự lựa chọn lớn nhất của đời mình.
Từ bỏ tấm áo quan trường và con đường danh vọng thênh thang đang rộng mở, Thủ Khoa Huân quyết định gác lại bút nghiên để chọn lấy một con đường đầy gian khổ và hy sinh: Trở thành một tư lệnh nghĩa quân. Đối với ông, tri thức Nho học không phải là thứ công cụ để mưu cầu vinh hoa phú quý cá nhân hay né tránh thời cuộc, mà phải được dùng để phụng sự Tổ quốc khi sơn hà lâm nguy. Cuộc đời ông từ khoảnh khắc ấy đã vĩnh viễn gắn chặt với phong trào kháng Pháp của sĩ phu và nhân dân Nam Kỳ. Ông trở thành biểu tượng kiêu hãnh của lớp trí thức Việt Nam thế kỷ XIX — những con người sẵn sàng từ bỏ tất cả để bước vào ngọn lửa đấu tranh, dùng chí khí và tấm lòng trung hiếu dệt nên một bản hùng ca bất tử vì độc lập, tự do của dân tộc.



