NGƯỜI HỌC VIÊN MƯỜI SÁU TUỔI
Năm 1966, Nguyễn Đức Viện mới mười sáu tuổi khi vào Trường Công an sơ cấp. Gần cuối khóa, ông được Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I tuyển chọn để học chuyên ngành trinh sát thám không và tình báo kỹ thuật. Tháng 9 năm 1968, ông ra trường, về cơ sở sơ tán tại Nhị Châu, Thường Tín, để thực tập và công tác.
Trong thời kỳ miền Bắc vừa tổ chức phòng không, sơ tán vừa chi viện miền Nam, một cơ sở kỹ thuật ở địa điểm sơ tán cũng là một phần của hoạt động thời chiến. Những người làm việc tại đây phải bảo vệ thiết bị và duy trì công tác trong điều kiện không hoàn toàn bình thường.
Một lớp học kỹ thuật trong thời chiến có thể không giống những gì người ta hình dung về một chiến sĩ. Sự chú ý dồn vào thông tin, cách phân biệt tín hiệu và ý thức giữ bí mật. Nếu một nội dung được ghi sai, những người ở khâu tiếp theo sẽ phải mất thêm thời gian xác minh. Đó là lý do công tác kỹ thuật đòi hỏi một nề nếp nghiêm túc.
Những năm học đầu tiên đặt người thanh niên trước một loại công việc khác với hình dung thông thường về chiến trường. Ông không học để cầm súng tiến công một cứ điểm. Điều cần rèn là khả năng nhận biết và khai thác thông tin từ tín hiệu vô tuyến, giữ bí mật và làm việc chính xác. Những kiến thức ấy sẽ theo ông đến tận căn cứ miền Nam nhiều năm sau.
Với một người vào trường ở tuổi mười sáu, ba năm từ 1966 đến 1968 là quãng thời gian trưởng thành nhanh. Ngoài học kiến thức, ông phải thích nghi với tổ chức và với yêu cầu của một công việc mà phần lớn kết quả không được công khai.
Chiến tranh thường được kể qua những trận đánh có địa danh và ngày tháng rõ ràng. Nhưng một đơn vị kỹ thuật lại có nhịp sống khác. Thành quả đến từ những giờ trực, việc ghi nhận chính xác và khả năng nối thông tin với bộ phận cần sử dụng. Không phải mọi kết quả đều có thể công bố khi sự việc vừa diễn ra. Vì thế, trong lời kể của người cựu trinh sát, những chi tiết về máy móc, ca làm và đời sống thường nổi bật hơn tên một trận đánh.
Các tư liệu hiện có chủ yếu dựa trên hồi ức được ghi lại nhiều năm sau. Những mốc có ngày tháng rõ như tháng 9 năm 1968, cuối tháng 4 năm 1972, ngày 19 tháng 5 năm 1972 và tháng 2 năm 1975 có thể đối chiếu trong bài phỏng vấn. Những tình tiết không có ngày cụ thể cần được giữ ở mức khoảng thời gian, thay vì đặt một ngày giả định cho câu chuyện thêm kịch tính.
Những câu chuyện được ghi lại hôm nay cần tôn trọng cả điều đã biết và điều chưa biết. Không có cơ sở để khẳng định Nguyễn Đức Viện bò vào căn cứ đối phương chỉ điểm cho pháo binh; các nguồn về ông xác nhận chuyên môn trinh sát kỹ thuật vô tuyến. Phân biệt hai nhiệm vụ này không làm giảm sự dũng cảm, mà giúp người đọc hiểu đúng đóng góp của nhân vật.
Ở chặng đời này, điều làm nên dấu ấn của Nguyễn Đức Viện là sự kết hợp giữa công việc chuyên môn và hoàn cảnh chiến trường. Những năm học đầu tiên đặt người thanh niên trước một loại công việc khác với hình dung thông thường về chiến trường. Ông không học để cầm súng tiến công một cứ điểm. Điều cần rèn là khả năng nhận biết và khai thác thông tin từ tín hiệu vô tuyến, giữ bí mật và làm việc chính xác. Những kiến thức ấy sẽ theo ông đến tận căn cứ miền Nam nhiều năm sau. Câu chuyện không cần một tình tiết giả định để trở nên dữ dội hơn. Những gì người trong cuộc kể lại đã cho thấy một thời kỳ mà ngay cả người ngồi bên máy thu cũng phải đi qua bom đạn, bệnh rừng và những lần chuyển căn cứ.
Khi đặt người học viên mười sáu tuổi vào dòng thời gian từ năm 1966 đến 1975, có thể thấy hành trình của ông không diễn ra trong một khoảnh khắc. Việc học nghề, chuẩn bị thiết bị, hành quân, thu tin và tiếp tục công tác sau chiến tranh nối thành một đường dài. Mỗi mốc trong đó có ý nghĩa riêng, nhưng đều gắn với tập thể cán bộ kỹ thuật và lực lượng an ninh miền Nam.
Tư liệu về Nguyễn Đức Viện còn ghi lại nhiều chi tiết về đồng đội và đời sống căn cứ. Không phải ai cũng có thể trở về sau chiến tranh. Có người hy sinh trong bom rải thảm, có người chịu bệnh tật kéo dài. Khi kể về những người đã khuất, sự thận trọng với tên tuổi và hoàn cảnh là cần thiết: nguồn không công bố danh sách đầy đủ, nên không thể bổ sung những lời cuối hoặc hành động cụ thể chỉ bằng tưởng tượng.
Cuối cùng, điều còn lại từ người học viên mười sáu tuổi là hình ảnh một người cán bộ kỹ thuật sống trong nhịp chiến tranh rất thật. Ông làm việc với tín hiệu và thông tin, nhưng ký ức còn chứa cả đường rừng, đồng đội và sự thiếu thốn. Những năm tháng ấy trở thành một phần của câu chuyện lịch sử về lực lượng công an chi viện miền Nam, nơi đóng góp không phải lúc nào cũng được đo bằng một trận đánh có tiếng súng.


