Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người Khai Sơn Phá Thạch đường Trường Sơn

Đường Trường Sơn là một trong những chiến công chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Người “khai sơn phá thạch” con đường huyền thoại này là Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Bẩm.

An Giang22/08/2026xã Nam Thanh Miện (Xã Nam Thanh Miện)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thiếu tướng Võ Bẩm cho biết, tuổi thơ của ông gắn liền với nỗi đau cùng cực của người dân mất nước. Ông sinh năm 1915 tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình Nho học yêu nước. Cha của ông là chí sĩ Võ Thạc - Phó soái chỉ huy cuộc khởi nghĩa Duy Tân tại Quảng Ngãi bị giặc Pháp bắt tra tấn đến chết. Anh trai ông là nhà cách mạng Võ Khoa từng học Trường Kỹ nghệ thực hành Huế, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên từ rất sớm và trở thành lớp đảng viên cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Ông Võ Khoa cũng bị thực dân bắt tù đày và mất sớm. Võ Bẩm được người mẹ nghèo goá bụa cho ăn học và do ảnh hưởng của người cha và người anh cũng sớm bí mật tham gia làm liên lạc, vận động thành lập các tổ chức cộng sản ở phía bắc Quảng Ngãi.

Tháng 8 năm 1934, khi tròn 19 tuổi, ông đã được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, được Đảng phân công giữ chức vụ bí thư chi bộ và năm 20 tuổi đã Bí thư Huyện ủy Sơn Tịnh, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Đầu năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án đày qua các nhà tù Lao Bảo, Ban Mê Thuột rồi bị “an trí’’ ở Ba Tơ. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được điều vào quân đội và giữ nhiều chức vụ từ chính trị viên tiểu đoàn đến chính ủy trung đoàn, rồi Phân khu trưởng kiêm Chính ủy Phân khu phụ trách Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Phân khu Tây Nguyên, Bí thư Phân khu ủy, Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Kon Tum.

Cuối năm 1953, ông được điều trở về Khu 5 làm Trưởng ban Tác chiến Bộ Tư lệnh Liên khu 5. Tháng 4-1954, ông là Chính ủy Trung đoàn 803 trực thuộc Khu 5, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Bước chân của vị chỉ huy trẻ tuổi Võ Bẩm dọc ngang khắp các chiến trường miền Trung và Tây Nguyên, tham gia nhiều trận đánh suốt kháng chiến chín năm chống Pháp.

Giữa năm 1955, ông được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy Trung đoàn 803 lên tàu tập kết ra Bắc. Đoàn tàu đã đưa cả Trung đoàn cập bến an toàn taij Tĩnh Gia (Thanh Hoá). Sau đó ông nhận nhiệm vụ do đích thân Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh giao cho là đặc trách kiểm tra, giám sát các đơn vị quân đội từ miền Nam tập kết ra Bắc và quân tình nguyện từ Lào về nước. Hoàn thành nhiệm vụ, ông được Bộ Quốc phòng rút về Bộ Tổng Tham mưu lần lượt đảm trách Phó cục trưởng Cục Quản lý giáo dục, Phó cục trưởng Cục Nông trường Quân đội trước khi nhận sứ mệnh chỉ huy đoàn công tác quân sự đặc biệt khai mở con đường tiếp viện cho chiến trường miền Nam.

Theo đề nghị của Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Võ Bẩm, chỉ vài ngày sau, cơ quan chỉ huy của Đoàn 559 đã hình thành. Người Đoàn phó được lựa chọn là đồng chí Nguyễn Thạnh. Đồng chí Nguyên Thạnh vừa đồng hương Quảng Ngãi lại vừa sát cánh cùng đồng chí Võ Bẩm trong thời kháng chiến chống Pháp ở Phú Yên .

Cũng ngay sau đó, Đoàn trưởng Võ Bẩm và Đoàn phó Nguyễn Thạnh đã trực tiếp đến các công trường, nông trường, đơn vị bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc để tuyển người, chủ yếu là người miền Trung và miền Nam có sức khỏe tốt để thành lập Đoàn 301 vào đầu tháng 6-1959 làm nhiệm vụ mở đường và vận chuyển trực thuộc Đoàn 559

Thiếu tướng Võ Bẩm nhớ lại: “Ngày 9-6-1959, Ban Cán sự Đảng Đoàn 559 đã họp, hạ quyết tâm lãnh đạo đơn vị trong thời gian ngắn phải xây dựng bằng được tuyến giao liên để đưa người, vũ khí và thuốc men vào miền Nam. “ Cuộc họp kết thúc, tôi điện ngay cho Ban chỉ huy Đoàn 301, phát lệnh "cấm trại", tổ chức cấp phát bổ sung quân trang, vũ khí trang bị, chuẩn bị lên đường vào Trường Sơn. Trưa hôm sau (ngày 10 -6) tôi cùng Đoàn phó Nguyễn Thạnh lên Đoàn 301 lúc này đóng quân tại Phù Lỗ. Sáng hôm sau, tại hội trường của Đoàn 301, trong bầu không khí vừa nghiêm túc, thân tình và phấn chấn cao độ, tôi thân tình hỏi anh em:
- Chúng ta đã được lệnh lên đường. Còn ai vương vấn gì nữa không?
Cả hội trường ào lên: Đi thôi, đi thôi. Không vướng mắc gì cả.
Tôi cảm ơn anh em, rồi đọc lệnh hành quân của cấp trên và xúc động truyền đạt lại lời dặn dò của Bác Hồ: Các chú đi làm nhiệm vụ đặc biệt này phải đảm bảo tuyệt mật; luôn luôn nhớ là "sống để dạ, chết mang theo”- Thiếu tướng Võ Bẩm nhớ lại.

Sau khi đưa Đoàn 301 đến tập kết tại doanh trại của Sư đoàn 325 ở tây nam thị xã Đồng Hới (Quảng Bình), Đoàn trưởng Võ Bẩm cùng Ban cán sự Đảng Đoàn 559 hội ý ngay với Tỉnh ủy Quảng Trị và Huyện ủy Hướng Hóa để chọn hướng tuyến vượt Trường Sơn bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ. Cuộc họp thống nhất quy định bộ đội phải cải dạng thành nhân dân, đúng hơn là "địa phương hóa" triệt để từ trang phục đến cách thức sinh hoạt. Nếu chẳng may bị địch bắt chỉ nhận là cán bộ nằm vùng để giữ bí mật tuyến giao liên. Sau cuộc họp này, Đặc khu Vĩnh Linh đã cung cấp cho Đoàn 559 hơn một nghìn bộ quần áo bà ba và hơn sáu trăm đôi dép cao su và gùi như bà con Vân Kiều vẫn dùng để thay ba lô. Hoàn tất các khâu chuẩn bị, ngày 26 - 6 -1959, Đoàn 301 hành quân vào tập kết tại Khe Hó, lấy danh nghĩa là công nhân khai thác gỗ (thợ sơn tràng) và công nhân nông trường, từ đó soi đường, mở tuyến vượt Trường Sơn”.

Theo hồi ức của các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 thủa ấy, để bảo đảm nguyên tắc tuyệt đối bí mật, tuyến giao liên ban đầu của Đoàn 559 phải tránh xa các bản làng. Trong khi khảo sát mở đường, đoàn không đi theo những lối mòn thuận lợi sẵn có, mà phải tìm lối đi mới ở bình độ cao hơn và khẩu hiệu hành động mà cán bộ, chiến sĩ trong đoàn thời đó ai cũng phải thuộc là “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.

Để có thể “đi không dấu”, các cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 đã cử người đi cuối cùng trong tốp giao liên, chuyển hàng xóa dấu vết hoặc đi men suối. Cũng có những nơi phải trải nilon để người bước chân vào, sau đó thu nilon cho vào ba lô đi tiếp. Đi đường xa, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 thường mang lương khô hoặc cơm nắm. Nếu bất đắc dĩ phải nấu ăn thì cán bộ, chiến sĩ phải dùng bếp Hoàng Cầm, ngụy trang khói và sau khi nấu ăn xong cũng phải xóa dấu vết ngay. Còn để “nói không tiếng”, trong những trường hợp cần thiết phải dùng ám hiệu.

Ngày 13-8-1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức băng rừng lội suối, vượt Trường Sơn theo phương thức tuyệt đối bí mật. Sau 8 ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 559 đã bàn giao hàng hóa (chủ yếu là vũ khí) cho Khu 5. Đến cuối năm 1959, Đoàn 559 đã mang vác, chuyển cho Khu 5 và Mặt trận Trị-Thiên được gần 2.000 khẩu súng bộ binh, hàng vạn viên đạn, hàng nghìn quân cụ thiết yếu, đồng thời đưa hơn 500 cán bộ, chiến sĩ, chủ yếu là cán bộ đại đội, trung đội theo tuyến giao liên Trường Sơn vào chiến trường.

Theo tướng Võ Bẩm, trải qua 18 tháng đầu tiên với gần hai mùa khô và một mùa mưa Trường Sơn, Đoàn 559 đã thiết lập được tuyến giao liên vận tải quân sự dài hàng trăm cây số qua những vùng địa hình vô cùng hiểm trở và bị kẻ thù đánh phá ác liệt.

So với yêu cầu của chiến trường, giai đoạn đầu Đoàn 559 còn vận tải quá ít, nhưng đó là bệ phóng quan trọng cho việc hình thành hệ thống đường chiến lược Trường Sơn lớn mạnh về sau. Đến cuối năm 1962, sau ba năm mở đường, hội nghị mừng công của Đoàn 559 lần đầu được diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Các đại biểu vui mừng được đón Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp tới dự và phát biểu rằng; “Trung ương đánh giá cao chiến công, sự hy sinh của Đoàn 559, đáng được nêu gương cho toàn quân học tập, nhưng tình hình trong nước và thế giới bấy giờ chưa có lợi cho việc tuyên truyền”. Thiếu tướng Võ Bẩm tâm sự: “Nghe anh Văn nói điều này, tôi và anh em đều cảm phục tầm nhìn cũng như tình cảm của anh dành cho những người lính của mình”.

Đoàn 559, dưới sự chỉ huy của Đoàn trưởng Võ Bẩm đã có sự phát triển vượt bậc như kỳ tích của tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Ngoài tuyến đường tây Trường Sơn đặc biệt quan trọng, Đoàn 559, còn mở thêm một số tuyến đường mới như một số đoạn của tuyến giao liên tây Trường Sơn phát triển thành đường 16 - một tuyến trục ngang; đường 129 dài gần 200km, từ Lằng Khằng (đường số 12) băng qua nhiều cánh rừng, sông suối như sông Sê Băng Hiêng, Sê Băng Phai... vào đến Pác Pha Năng, nối thông với đường 9 ở Mường Phìn, Lào.

Những năm sau này, nhiều tuyến đường khác còn được mở hoặc sửa chữa, nâng cấp. Từ đơn thuần là đường gùi, thồ nội địa và dọc biên giới, Đoàn đã được trang bị 6 xe Gát 69, 2 xe Gát 51, 16 xe Gát 63 và hơn 600 xe đạp thồ... Lực lượng vận chuyển không chỉ phòng tránh địch đánh phá, mà còn được trang bị vũ khí để “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”. Đồng thời, từ chỗ phải “giấu dân”, Đoàn đã tiến tới tranh thủ và gây dựng cơ sở trong nhân dân. Đặc biệt, ta còn dùng cả máy bay vận chuyển vũ khí đến sân bay Tà Khống (cách Sê Pôn khoảng 5km), hoặc thả dù gạo xuống đường 129 mới mở.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn