Người khởi đầu mở đường trên biển ở Nam Bộ
Tôi nhớ mình được gặp cụ Dương Quang Đông đúng vào sáng mồng Hai Tết Nguyên đán năm 2000. Khởi hành cho chuyến xuất hành cho năm đầu thế kỷ ấy, mấy người làm báo chúng tôi tới mừng thọ Giáo sư Trần Văn Giàu. Khi bước đến cửa phòng khách, tôi thấy một ông già dáng thấp đậm, tóc húi ngắn, mặc áo trắng, quần xanh, mặt đôn hậu đang trò chuyện với chủ nhà...
Tôi nhớ mình được gặp cụ Dương Quang Đông đúng vào sáng mồng Hai Tết Nguyên đán năm 2000. Khởi hành cho chuyến xuất hành cho năm đầu thế kỷ ấy, mấy người làm báo chúng tôi tới mừng thọ Giáo sư Trần Văn Giàu. Khi bước đến cửa phòng khách, tôi thấy một ông già dáng thấp đậm, tóc húi ngắn, mặc áo trắng, quần xanh, mặt đôn hậu đang trò chuyện với chủ nhà. Cụ Trần Văn Giàu giới thiệu người khách với chúng tôi:
- Đồng chí Dương Quang Đông (anh Năm Đông) là người khởi đầu cho công việc mở đường trên biển ở Nam Bộ vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, ngày nay chúng ta gọi là Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Trong buổi sáng đầu năm mới ấy, tôi được cụ Dương Quang Đông kể cho nghe nhiều chuyện lý thú về Đường Hồ Chí Minh trên biển ở Nam Bộ.
Vào năm 1961, sau Nghị quyết 15 của Đảng, Trung ương Cục miền Nam được thành lập. Địch phản ứng dữ lắm. Tên Mai Hữu Xuân, nguyên là lính khố đỏ Pháp, chỉ huy hai sư đoàn quân ngụy Sài Gòn đánh vào căn cứ ta. Lính địch tràn khắp rừng, tàn sát cả những người dân sống trên các nương rẫy. Trung ương Cục phải dời lên tận rừng sâu Mã Đà, lương thực không có, thuốc men thiếu, tiền cạn kiệt. Đói rét, cán bộ, chiến sĩ nhịn cơm liên tục cả tuần, phải ăn trái cây rừng, ăn củ chụp. Có điều kỳ diệu là trong khó khăn tột cùng ấy không ai ta thán, đào ngũ, chiêu hồi, tất cả đều lạc quan, tin tưởng vào cách mạng sẽ thắng lợi.
Chính trong thế ngặt nghèo ấy, Trung ương Cục lập ban chỉ đạo lập chuyến đường biển tiếp tế vũ khí cho Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Đồng chí Đặng Thái Bường, thay mặt Trung ương Cục giao nhiệm vụ cho đồng chí Dương Quang Đông:
- Chúng tôi đã họp bàn và quyết định giao cho đồng chí công tác phụ trách vận chuyển đường biển tiếp tế vũ khí từ miền Bắc vào Nam. Đồng chí hãy gặp anh Bảy Tiến và anh Hai Xô để bàn cụ thể.
Anh Bảy Tiến chính là đồng chí Trần Văn Quang, Tư lệnh Miền, lúc ấy gọi là Trưởng ban Quân sự Nam Bộ. Anh Bảy Tiến giao cho Dương Quang Đông đi khảo sát vùng Bà Rịa, tìm nơi lập bến tàu rồi cho người ra Bắc đón tàu chở súng đạn về. Ra đi chỉ có hai đồng bạc dắt lưng, còn cái ăn phải tự kiếm lấy. Lúc này địch bố ráp thường xuyên, làm sao tiếp cận với dân. Vậy mà dân đã tự tìm đến. Khi thấy chúng tôi lang thang, dò tìm ở các bến sông suối Nước Nóng, Bình Châu, Hồ Cóc, Phước Hải, một ông già đến gặp và đưa về nhà, tự giới thiệu là dân đánh cá. Sống với gia đình ông ba ngày, chúng tôi dò hỏi về mực nước các bến, ông nói ngay: “Tui đoán mấy chú tìm bến cho thuyền tàu đáp rồi”. Rồi ông dẫn chúng tôi đi. Tôi về Trung ương Cục báo cáo kết quả, lần này tiếp tôi là anh Ba Bường. Nghe tôi trình bày xong, anh giao tiếp nhiệm vụ:
- Anh hãy trở lại nơi ấy xác định cho rõ nơi tàu cập bến, tổ chức mạng lưới quần chúng cơ sở quanh đó, rồi cho người ra Bắc đón tàu của Trung ương chở súng đạn về. Thời cơ đã chín, trong Khu 9, Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng đã cử người ra Bắc cả rồi đó.
Thời gian này, địch bố phòng ráo riết hơn, đoàn của Dương Quang Đông phải đi đường vòng lên mạn Căm Xe, vượt qua con lộ 13, gọi là lộ tử vì địch phục kích, mìn dày đặc, nhiều người hy sinh khi qua đó. Sang Tánh Linh, Phú Giáo đến Giá Rai rồi mới đến Mây Tào, thuộc Xuyên Mộc. Lang thang trong rừng, bên bờ biển hơn một tháng mới bắt liên lạc được với các đồng chí huyện ủy Xuyên Mộc, các anh chỉ dẫn nơi đứng chân là núi Mây Tào, có nhiều hang đá, tiện cho việc ẩn nấp khi địch càn, đánh bom. Các anh chọn vùng Mây Tào, đó là nơi bảo đảm an toàn nhất. Khi đến gần Mây Tào thì đoàn lọt vào ổ phục kích của địch, mất hết đồ đạc, đến ngày thứ ba mới gặp được cơ sở của ta là chị Mười Rìu ở Hố Tràm. Trong bữa ăn tối với gia đình, nghe anh nói nhiệm vụ sắp tới, trước mắt là làm sao có tiền để sắm tàu ghe, lưới, gạo nước…, chị Mười nói:
- Việc ấy các anh giao cho tôi.
Vậy rồi chị tất tả đi. Không biết bằng cách nào, vay mượn của ai mà chị đã mua được một chiếc ghe 6 tấn, máy đẩy Yamaha, mấy tấn xăng, dầu, hàng chục tấn gạo, thực phẩm, với giá 10 triệu đồng, 3 tấm lưới, mỗi tấm 1 triệu đồng. Rồi còn các thứ khác nữa, cũng bạc triệu cả. Đó là vốn liếng ban đầu để đội tàu từ Nam Bộ ra miền Bắc đưa vũ khí vào.
Tôi hỏi:
- Thưa bác, chị Mười hiện nay ở đâu?
- Ở Phước Hải, Bà Rịa chớ ở đâu.
- Sau giải phóng, ta có hoàn lại số tiền ấy không?
Cụ Dương Quang Đông trầm ngâm một hồi, rồi nói:
- Không. Sau giải phóng chúng tôi tới thăm, nhắc đến chuyện ấy mới được biết, sau đó chị vay chỗ nọ đắp chỗ kia, phải hàng chục năm mới trả hết. Và những người cho vay biết chị đem của cải ấy phục vụ cách mạng nên không lấy lời, có người chỉ lấy tượng trưng mà thôi. Khi chúng tôi đặt vấn đề, chị nói: “Vậy xương máu của hàng triệu liệt sĩ, trả sao nổi”. Vậy rồi thôi. Thực ra hỏi cho phải đạo vậy thôi, chứ lấy đâu tiền để trả, mà trả sao hết tiền của nhân dân đã bỏ ra cho cách mạng.
Khi chia tay, cụ Dương Quang Đông nói với chúng tôi:
- Muốn trả ơn nghĩa với nhân dân, chúng ta phải sống xứng đáng, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân vô điều kiện, làm đầy tớ cho dân như Bác Hồ đã dặn.



