Người Kỹ Sư Quân Sự Cống Hiến Trọn Đời Cho Tổ Quốc (1)
Trần Đại Nghĩa là nhà khoa học, kỹ sư quân sự và Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến và phát triển khoa học kỹ thuật nước nhà. Ông được Nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu cao quý và tên tuổi được vinh danh qua nhiều công trình, trường học, đường phố và giải thưởng khoa học.
Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ông xuất thân trong một gia đình nhà giáo nghèo, sớm mồ côi cha nhưng vẫn vượt khó học tập và đạt thành tích xuất sắc. Năm 1935, ông sang Pháp du học, theo học nhiều trường đại học danh tiếng và tốt nghiệp các ngành kỹ thuật, toán học. Sau đó, ông làm việc trong lĩnh vực hàng không và nghiên cứu kỹ thuật tại Pháp và Đức.
Năm 1946, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước tham gia cách mạng, ông được đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa và được giao nhiệm vụ tổ chức, nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến. Với kiến thức và kinh nghiệm tích lũy từ quá trình học tập, làm việc ở nước ngoài, ông cùng các cộng sự nghiên cứu thành công súng Bazooka chống tăng và súng không giật SKZ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của quân đội Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong quân đội, ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Cục trưởng Cục Quân giới, Giám đốc Nha Nghiên cứu Quân giới, Cục trưởng Cục Pháo binh và Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông chuyển sang lĩnh vực khoa học và quản lý nhà nước, giữ nhiều cương vị như Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam và Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Không chỉ là nhà khoa học quân sự xuất sắc, Trần Đại Nghĩa còn là người đặt nền móng cho nhiều hoạt động khoa học – kỹ thuật của đất nước. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Bách khoa Hà Nội, được bầu làm Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1966 và được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, danh hiệu Anh hùng Lao động và Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp khoa học và giáo dục. Những năm cuối đời, ông sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và qua đời ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 83 tuổi. Tên tuổi của ông được đặt cho nhiều trường học, đường phố, công trình và giải thưởng khoa học, thể hiện sự ghi nhận đối với những đóng góp to lớn của ông cho đất nước.


