Anh hùng Lao động

Người kỹ sư trở về từ Paris

Rời bỏ công việc nghiên cứu vũ khí ở Pháp để theo Bác về nước năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ, tức Giáo sư Trần Đại Nghĩa, đã cùng anh em quân giới chế tạo bazooka và súng không giật ngay giữa rừng Việt Bắc.

Vĩnh Long28/10/2026Nguyễn Thanh Huyền (Đại học Bách Khoa Hà Nội)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chuyến tàu cuối năm 1946

Mùa thu năm 1946, chiếc tàu Dumont d'Urville rời cảng Toulon của Pháp để đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam sau chuyến thăm kéo dài nhiều tháng, và cùng đi trên chuyến tàu ấy có một kỹ sư người Việt ngoài ba mươi tuổi đã sống ở Pháp hơn mười năm. Ông có một công việc nghiên cứu vũ khí với mức lương rất cao, có trong tay nhiều tấm bằng kỹ sư, và nếu ở lại thì gần như chắc chắn sẽ có một cuộc sống đủ đầy, nhưng ông vẫn quyết định xách vali theo Bác về nước.

Trong hành lý của ông có rất nhiều sách vở và tài liệu kỹ thuật về chế tạo vũ khí mà anh đã chắt chiu gom góp suốt những năm ở châu Âu, bởi ông hiểu rằng một đất nước vừa giành được độc lập và sắp phải bước vào chiến tranh sẽ cần đến chúng hơn bất cứ thứ gì khác. Người kỹ sư ấy tên là Phạm Quang Lễ, và chỉ ít lâu sau, ông được Bác đặt cho một cái tên mới là Trần Đại Nghĩa.

Phạm Quang Lễ sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại làng Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình nhà giáo. Cha mất khi ông mới sáu tuổi, người mẹ một mình tần tảo nuôi các con ăn học, và ông sớm hiểu rằng con đường duy nhất để đỡ đần mẹ là phải học thật giỏi.

Ông học trung học ở Mỹ Tho rồi lên Sài Gòn học trường Petrus Ký, và năm 1933 đỗ hai bằng tú tài một lúc, một về toán và một về triết học, điều rất hiếm thấy với một học sinh người Việt thời ấy. Năm 1935, ông sang Pháp du học với một ước muốn khá rõ ràng là phải học cho được nghề chế tạo vũ khí, vì ông cho rằng muốn đánh đuổi được thực dân thì không thể chỉ dựa vào giáo mác.

Ở Pháp, ông theo học nhiều trường đại học và trường kỹ thuật, lấy được bằng kỹ sư ở nhiều ngành khác nhau, đồng thời tìm cách vào làm ở các cơ sở nghiên cứu vũ khí để được tiếp cận với những tài liệu mà người ngoài khó có thể tìm thấy. Hơn mười năm ấy ông sống rất giản dị, phần lớn thu nhập dành để mua sách, và những gì học được đều được ông ghi chép cẩn thận, chờ ngày đem về nước.

Ngày 5 tháng 12 năm 1946, chỉ ít tuần sau khi về nước, Phạm Quang Lễ được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao giữ chức Cục trưởng Cục Quân giới, cơ quan lo việc nghiên cứu và sản xuất vũ khí cho quân đội. Cũng vào dịp ấy, Bác đặt cho ông cái tên Trần Đại Nghĩa, với ý muốn người kỹ sư trẻ sẽ gánh vác một việc lớn và chính nghĩa, đồng thời cái tên mới cũng giúp giữ an toàn cho gia đình ông đang sống ở vùng Pháp kiểm soát.

Hai tuần sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các xưởng quân giới phải rời khỏi thành phố, chuyển lên những vùng rừng núi Việt Bắc. Ở đó không có nhà máy, máy móc thì ít ỏi và cũ kỹ, nguyên vật liệu phải đi gom từ đường ray xe lửa, từ phế liệu chiến trường, còn người thợ thì phần lớn chưa từng được học hành bài bản về kỹ thuật.

Trần Đại Nghĩa vừa làm người chỉ huy, vừa làm thầy giáo dạy anh em thợ đọc bản vẽ, tính toán, vừa trực tiếp đứng máy và thử nghiệm, và những người làm việc cùng ông sau này thường kể rằng ông rất ít khi nói về những tấm bằng của mình.

Trong những năm đầu kháng chiến, xe tăng và xe bọc thép của Pháp là nỗi lo rất lớn của bộ đội ta, bởi súng trường và lựu đạn thông thường gần như không thể làm gì được lớp vỏ thép dày của chúng. Dựa trên những tài liệu đã nghiên cứu ở Pháp, Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong Cục Quân giới bắt tay vào chế tạo súng bazooka, và năm 1947, khẩu bazooka do ta tự làm đã bắn cháy xe tăng địch ngay trên chiến trường.

Sau bazooka là súng không giật, bộ đội quen gọi tắt là SKZ, loại súng có thể phá được lô cốt và những công sự kiên cố của địch, rồi đến loại bom bay có sức công phá lớn được đưa vào sử dụng trong một số trận đánh. Mỗi loại vũ khí ra đời đều phải qua rất nhiều lần thử, có lần thất bại, có lần nguy hiểm đến tính mạng, nhưng chính những khẩu súng làm ra giữa rừng ấy đã góp phần giúp bộ đội đối đầu được với một đội quân trang bị hiện đại hơn mình rất nhiều.

Năm 1948, Trần Đại Nghĩa được phong hàm Thiếu tướng, nằm trong lớp những vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, và năm 1952, ông được tuyên dương Anh hùng Lao động trong đợt đầu tiên của cả nước.

Sau năm 1954, Trần Đại Nghĩa tiếp tục gắn bó với công việc khoa học và kỹ thuật của đất nước, lần lượt đảm nhận nhiều cương vị như Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam và Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, một sự ghi nhận hiếm có dành cho một nhà khoa học Việt Nam thời đó.

Dù ở cương vị nào, ông vẫn giữ lối sống giản dị như những ngày ở rừng Việt Bắc, vẫn dành nhiều thời gian để dìu dắt lớp cán bộ trẻ, và luôn nhắc rằng làm khoa học ở một đất nước nghèo thì phải biết bắt đầu từ những gì mình đang có trong tay.

Ông mất ngày 9 tháng 8 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh, và năm 1996, trước đó không lâu, ông đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Nhìn lại cuộc đời ông, người ta thấy một quyết định của tuổi ba mươi ba, khi rời bỏ một tương lai yên ổn ở Paris để về với đất nước, đã định hình cả một đời người, và cũng góp một phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến của cả dân tộc.



Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn