NGƯỜI LÀ NGỌN NÚI THÁI SƠN CỦA TỰ TÔN DÂN TỘC
Dòng sông Hồng nghìn năm vẫn đỏ nặng phù sa, cuộn chảy như dòng máu anh hùng sục sôi trong lòng đất mẹ. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh biết bao bậc kiệt hiệt. Nhưng có một con người mà tên tuổi đã trở thành danh xưng của niềm tin, thành biểu tượng bất tử cho ý chí quật cường và lòng tự tôn民族 tuyệt đối – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài, mà còn là kết tinh trọn vẹn nhất khí phách ngàn năm của một dân tộc chưa bao giờ biết cúi đầu nô lệ.
Khát vọng thắp lên từ bến cảng quê hương
Lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là những trang đêm đen mù mịt. Những cuộc nổi dậy quật cường của các vị sĩ phu yêu nước đều lần lượt chìm trong máu và nước mắt. Chính trong thời khắc bế tắc ấy, ngày 05 tháng 6 năm 1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với bàn tay trắng và đôi mắt đau đớn trước cảnh nước mất nhà tan, đã bước lên con tàu Amiral Latouche-Tréville ra đi tìm đường cứu nước.
Ra đi không phải để xin sự rủ lòng thương của phương Tây, Người đi để thấu hiểu kẻ thù, tìm kiếm chân lý tự do cho đồng bào mình. Hành trình 30 năm bôn ba qua ba đại dương, bốn châu lục, kinh qua hàng chục quốc gia, làm đủ mọi nghề lao động cực nhọc là một minh chứng đanh thép cho bản lĩnh kiên cường của người con xứ Nghệ. Người không gục ngã trước cái lạnh giá của mùa đông Paris hay những hiểm nguy của chốn tù ngục. Lòng yêu nước nồng nàn cùng tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc chính là ngọn lửa sưởi ấm, dẫn đường cho Người vượt qua muôn vàn giông bão.
Ngày trở về và bước ngoặt lịch sử
Đầu năm 1941, ngày 28 tháng 1 (tức mùng 2 Tết Tân Tỵ), sau ba mươi năm đằng đẵng, Bác Hồ đặt chân trở về cột mốc 108 trên biên giới Việt - Trung, thiêng liêng hôn lên mảnh đất quê hương tại Pác Bố, Cao Bằng. Sự trở về của Người chính là luồng sinh khí mới thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng đã được nén chặt qua bao năm tháng.
Tại lán Nà Nưa đơn sơ, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Minh để gom tụ sức mạnh của toàn dân. Tinh thần tự tôn và ý chí tự lực tự cường được Bác khẳng định mạnh mẽ: "Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Và rồi, khi thời cơ chín muồi vào mùa thu năm 1945, triệu người như một đã vùng lên. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công vang dội, đập tan ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng ngàn năm.
Mùa thu lịch sử và lời tuyên ngôn bất tử
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, giữa biển vàng cờ đỏ và hàng triệu trái tim thổn thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Giọng nói ấm áp, hào hùng của Người vang vọng khắp không gian:
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."
Lời thề ấy không chỉ là bản tuyên ngôn chấm dứt thời kỳ nô dịch, mà còn là lời khẳng định đanh thép với cả thế giới về quyền sống, quyền tự do và phẩm giá của dân tộc Việt Nam. Khái niệm tự tôn dân tộc chưa bao giờ rực rỡ và hiên ngang đến thế. Dưới sự lãnh đạo của Người, một dân tộc vốn bị coi là "nhược tiểu" đã đứng thẳng lưng, kiêu hãnh bước vào kỷ nguyên mới.
Tinh thần bất khuất qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến
Tự do không phải là quà tặng, mà là thành quả của gian khổ và hy sinh. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến với khí phách bất diệt: "Thà gieo mình hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ".
Chính lời hiệu triệu hào hùng ấy đã biến từng căn nhà, từng góc phố thành pháo đài, biến mỗi người dân thành chiến sĩ. Lòng tự tôn dân tộc đã tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954, quật ngã bộ máy quân sự sừng sỏ của thực dân Pháp.
Không dừng lại ở đó, trước đế quốc Mỹ hùng mạnh, Bác tiếp tục đúc kết chân lý vượt thời đại: "Không có gì quý hơn Tự do và Độc lập". Khẩu hiệu ấy đã trở thành lẽ sống, thành sức mạnh thần kỳ nâng bước chân những đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", quyết tâm đi đến ngày toàn thắng, Bắc - Nam thu về một mối.
Nhìn lại và bước tiếp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người vẫn vẹn nguyên giá trị, trở thành di sản vô giá của dân tộc. Bác không để lại những đền đài đồ sộ hay lăng tẩm uy nghi, mà Người sống mãi trong trái tim của hàng triệu người con Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Sống và bước tiếp dưới ánh sáng của Người hôm nay, lòng tự tôn dân tộc không chỉ là sự tự hào về quá khứ hào hùng, mà còn là khát vọng vươn lên xây dựng một Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Nhớ về Bác là nhớ về tinh thần tự lực tự cường, là lời nhắc nhở mỗi cá nhân phải nỗ lực không ngừng để đưa đất nước bước lên đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu như nguyện ước suốt đời của Người.



