NGƯỜI LÁI ĐÒ CẢM TỬ TRÊN SÔNG BA LÒNG (1)
Trong căn nhà nhỏ yên bình giữa lòng Hà Nội, ông Đỗ Quốc Phong,
nguyên Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong TP.Hà Nội, chậm rãi lật
giở từng trang ký ức.
Mái tóc đã bạc màu thời gian, nhưng khi nhắc về những năm tháng tuổi 20,
đôi mắt ông vẫn rực lên ngọn lửa của một thời "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước". Đó là câu chuyện về chàng thư sinh Hà thành xếp bút nghiên lên
đường, trở thành người lái đò cảm tử trên dòng sông Ba Lòng huyền thoại.
Từ giảng đường đến chiến trường
Năm 1965, chàng thanh niên Đỗ Quốc Phong tốt nghiệp cấp 3 tại Trường
Ứng Hòa (Vân Đình, Hà Tây cũ; nay là Hà Nội). Thời ấy, tốt nghiệp phổ thông
là cả một gia tài tri thức, cánh cửa Đại học Sư phạm đang rộng mở chào đón
nhưng giữa lúc tiếng súng vọng về từ miền Nam ruột thịt, tiếng gọi của non
sông đã thôi thúc những chàng trai mười tám, đôi mươi gác lại giấc mơ đèn
sách.
Ông Đỗ Quốc Phong kể lại kỷ niệm trong một lần giao lưu với người trẻ
Ngày 13.7.1965, Đỗ Quốc Phong tham gia Đội thanh niên xung phong (TNXP)
K53, đơn vị đặc biệt và duy nhất của Đoàn thanh niên được cử vào chiến
trường miền Nam. Ông mang theo hành trang là nhiệt huyết của tuổi trẻ và
tâm hồn lãng mạn của người trai Hà Nội. "Lúc đầu đi thì cũng chưa căm thù
giặc sâu sắc đâu, chỉ biết yêu nước, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng thì đi
thôi", ông Phong nhớ lại. Đơn vị của ông được huấn luyện tại Trường Đoàn
(Cầu Giấy, Hà Nội).
Bước ngoặt thực sự khiến ý chí của ông "hóa thép" là khi đặt chân đến Hà
Tĩnh. Tại đây, ông tận mắt chứng kiến cảnh máy bay đối phương ném bom
vào một trường mẫu giáo. Hình ảnh những đứa trẻ vô tội ngã xuống, máu
nhuộm đỏ trang sách và sân trường đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn tột
độ. "Tự nhiên mình nghĩ, trẻ con thế này mà nó cũng giết. Lúc ấy lòng căm
thù mới thực sự trỗi dậy, biến thành quyết tâm sắt đá: phải đi, phải chiến đấu
để bảo vệ đồng bào mình", ông Phong xúc động kể.
Những đêm không ngủ trên dòng Ba Lòng
Sau hành trình dài vào Đò Lèn (Thanh Hóa) rồi hành quân bộ dọc theo dải đất
miền Trung, đơn vị của ông Phong đóng tại phân khu Trị Thiên-Huế. Tại đây,
ông xung phong làm trinh sát và bảo vệ hành lang giao thông tại khu vực
đường 9. Nhiệm vụ đặc biệt và sâu đậm nhất trong cuộc đời quân ngũ của
ông chính là thời gian lái đò trên sông Ba Lòng - dòng thượng nguồn của
sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Đây là điểm nút giao thông huyết mạch để
vận chuyển quân, lương thực và đạn dược từ Bắc vào Nam và cũng là nơi bị
tập trung đánh phá ác liệt nhất.
Hàng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ đã vượt
sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước
xiết và đáy sông đầy đá ngầm. Quân đông, hàng nhiều mà thuyền độc mộc thì
bé, nên ông Phong báo cáo lãnh đạo và phối hợp với du kích địa phương tổ
chức lên rừng đốn cây, làm một con đò lớn. Việc làm đò vô cùng gian nan,
phải vừa dùng rìu khoét rỗng ruột rồi dùng lửa đốt để tạo hình. Mất hơn 2
tháng trời ròng rã, một con đò mới thành hình, dài chừng 8 - 10 m, đủ sức
chở một trung đội khoảng 30 người.
Ông Đỗ Quốc Phong trong một lần đến thăm hỏi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả
Phiêu tại nhà riêng
Ông Phong nhớ lại: "Học chèo đò độc mộc khó lắm. Đứng trên đó nó tròng
trành, không cẩn thận là lật ngay. Chúng tôi phải học cách đứng chéo chân,
tay trái dùng sào chống, tay phải dùng mái chèo quạt nước. Phải tập cả tháng
trời mới dám chở quân".
Công việc bắt đầu khi màn đêm dần buông xuống, khoảng 5 giờ chiều đến 3 -
4 giờ sáng hôm sau. Dòng sông Ba Lòng về đêm là ranh giới mong manh
giữa sự sống và cái chết. Trên trời, máy bay trinh sát và B52 của Mỹ quần
thảo liên tục. Dưới sông, dòng nước chảy xiết và đầy rẫy đá ngầm.
"Mỗi đêm chèo không biết bao nhiêu chuyến. Có những hôm chở quân vào,
rồi lại chở thương binh ra. Máu và nước mắt hòa vào dòng sông lạnh buốt",
ông kể. Kỹ thuật chèo đò thời chiến cũng là một nghệ thuật sinh tử. Khi máy
bay đối phương thả pháo sáng, cả người và đò phải bất động, lợi dụng bóng
tối và dòng chảy để ngụy trang. Chỉ cần một tiếng động mạnh, hay một ánh
lửa lóe lên, bom đạn sẽ trút xuống ngay lập tức.
Sự khốc liệt của chiến trường không chỉ nằm ở bom đạn mà còn ở sự bào
mòn thể xác đến cùng cực. Ông Phong kể có những đêm gồng mình chèo
chống ngược dòng nước lũ, đưa bộ đội qua sông an toàn. Cường độ làm việc
quá lớn, ăn uống kham khổ thiếu thốn, khiến ông và nhiều đồng đội kiệt sức.
Kỷ niệm đau thương nhất là lần chứng kiến đồng đội hy sinh ngay trước mắt.
Một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn của đơn vị, các đồng đội hy sinh tại chỗ, thi
thể không còn nguyên vẹn. "Lúc ấy không còn biết sợ là gì nữa, chỉ thấy đau
xót và càng thêm quyết tâm trả thù cho anh em", ông Phong nói. Trong những
năm tháng khốc liệt ấy, ông cũng nhiều lần chết hụt nhưng may mắn thoát
nạn do bom đạn "tránh" ông.
Kỷ niệm với nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu
Trong câu chuyện của mình, ông Phong nhắc nhiều đến những lần gặp gỡ
các vị tướng lĩnh cấp cao, trong đó có lần ông chèo đò đưa nguyên Tổng Bí
thư Lê Khả Phiêu (khi ấy là Chính ủy Trung đoàn 9) qua sông. Ông nhớ mãi
hình ảnh ông Lê Khả Phiêu đi kiểm tra, thấy ông Phong ốm yếu nhưng vẫn
kiên cường bám trụ bến đò, đã động viên và ghi nhận tinh thần dũng cảm của
người lính trẻ thủ đô.
Cuối năm 1967, với thành tích xuất sắc, chiến sĩ chèo đò Đỗ Quốc Phong là
một trong 2 đại biểu tiêu biểu của Đội TNXP K53 được đi dự Đại hội Chiến sĩ
thi đua Quân khu Trị Thiên, nhận bằng khen và danh hiệu "Dũng sĩ quyết
thắng".
Sau những năm tháng ác liệt nơi chiến trường Trị Thiên-Huế, ông Đỗ Quốc
Phong được cử ra Bắc đi học, tiếp tục cống hiến trong ngành giáo dục và đào
tạo. Hòa bình lập lại, ông trở về với cuộc sống đời thường, mang theo những
vết thương lòng không bao giờ lành hẳn. Hành trang của ông là những tấm
huân huy chương mang đầy trên ngực: Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng
2 và hạng 3); Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng 2 và hạng 3); Huân
chương Kháng chiến hạng 3; Huân chương Chiến công hạng 3 và rất nhiều
bằng khen, giấy khen.
Nghỉ hưu năm 2004, nhưng người lính già ấy chưa bao giờ nghỉ ngơi. Ông trở
thành Chủ tịch Hội Cựu TNXP TP.Hà Nội (2005 - 2023); Ủy viên Đoàn Chủ
tịch T.Ư Hội Cựu TNXP VN… "Mình còn sống trở về là may mắn hơn hàng
vạn đồng đội rồi. Vì thế, mình phải sống sao cho xứng đáng với họ", ông tâm
sự.
Những câu chuyện của ông Đỗ Quốc Phong không chỉ là hồi ức của một cá
nhân, mà là lát cắt chân thực về một thế hệ thanh niên Hà Nội hào hoa mà
anh dũng. Họ gác lại giấc mơ đèn sách, hiến dâng tuổi thanh xuân đẹp nhất
cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng hình ảnh người
lính trẻ Đỗ Quốc Phong chèo chiếc thuyền độc mộc giữa mưa bom bão đạn
trên dòng sông Ba Lòng vẫn mãi là biểu tượng đẹp đẽ của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng. Đó là minh chứng sống động cho câu thơ: "Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai".
Cuộc đời ông và những đồng đội của ông, chính là những bông hoa lửa rực
rỡ nhất, nở giữa chiến trường khốc liệt để mang về mùa xuân cho đất nước
hôm nay.


