Bài viết

Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng (17)

Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng

Quảng Ninh07/07/2026Chuyện có thật (LCĐ Khoa Du lịch)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, chàng thanh niên Đỗ Quốc Phong tốt nghiệp cấp 3 tại Trường Ứng Hòa (Vân Đình, Hà Tây cũ; nay là Hà Nội). Thời ấy, tốt nghiệp phổ thông là cả một gia tài tri thức, cánh cửa Đại học Sư phạm đang rộng mở chào đón nhưng giữa lúc tiếng súng vọng về từ miền Nam ruột thịt, tiếng gọi của non sông đã thôi thúc những chàng trai mười tám, đôi mươi gác lại giấc mơ đèn sách.

Ngày 13.7.1965, ông Đỗ Quốc Phong tham gia Đội thanh niên xung phong K53, đơn vị đặc biệt và duy nhất của Đoàn thanh niên được cử vào chiến trường miền Nam. Đơn vị của ông được huấn luyện tại Trường Đoàn (Cầu Giấy, Hà Nội). Tại đây, ông tận mắt chứng kiến cảnh máy bay đối phương ném bom vào một trường mẫu giáo. Hình ảnh những đứa trẻ vô tội ngã xuống, máu nhuộm đỏ trang sách và sân trường đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn tột độ.

Sau hành trình dài vào Đò Lèn (Thanh Hóa) rồi hành quân bộ dọc theo dải đất miền Trung, đơn vị của ông Phong đóng tại phân khu Trị Thiên-Huế. Tại đây, ông xung phong làm trinh sát và bảo vệ hành lang giao thông tại khu vực đường 9. Nhiệm vụ đặc biệt và sâu đậm nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông chính là thời gian lái đò trên sông Ba Lòng - dòng thượng nguồn của sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị. Đây là điểm nút giao thông huyết mạch để vận chuyển quân, lương thực và đạn dược từ Bắc vào Nam và cũng là nơi bị tập trung đánh phá ác liệt nhất.

Hàng đêm, hàng chục tấn hàng hóa và nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ đã vượt sông trên những chiếc đò độc mộc chỉ chở được 6 - 7 người, giữa dòng nước xiết và đáy sông đầy đá ngầm. Quân đông, hàng nhiều mà thuyền độc mộc thì bé, nên ông Phong báo cáo lãnh đạo và phối hợp với du kích địa phương tổ chức lên rừng đốn cây, làm một con đò lớn. Việc làm đò vô cùng gian nan, phải vừa dùng rìu khoét rỗng ruột rồi dùng lửa đốt để tạo hình. Mất hơn 2 tháng trời ròng rã, một con đò mới thành hình, dài chừng 8 - 10 m, đủ sức chở một trung đội khoảng 30 người.

Công việc bắt đầu khi màn đêm dần buông xuống, khoảng 5 giờ chiều đến 3 - 4 giờ sáng hôm sau. Dòng sông Ba Lòng về đêm là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trên trời, máy bay trinh sát và B52 của Mỹ quần thảo liên tục. Dưới sông, dòng nước chảy xiết và đầy rẫy đá ngầm.
Kỹ thuật chèo đò thời chiến cũng là một nghệ thuật sinh tử. Khi máy bay đối phương thả pháo sáng, cả người và đò phải bất động, lợi dụng bóng tối và dòng chảy để ngụy trang. Chỉ cần một tiếng động mạnh, hay một ánh lửa lóe lên, bom đạn sẽ trút xuống ngay lập tức.

Sự khốc liệt của chiến trường không chỉ nằm ở bom đạn mà còn ở sự bào mòn thể xác đến cùng cực. Ông Phong kể có những đêm gồng mình chèo chống ngược dòng nước lũ, đưa bộ đội qua sông an toàn. Cường độ làm việc quá lớn, ăn uống kham khổ thiếu thốn, khiến ông và nhiều đồng đội kiệt sức.
Cuối năm 1967, với thành tích xuất sắc, chiến sĩ chèo đò Đỗ Quốc Phong là một trong 2 đại biểu tiêu biểu của Đội TNXP K53 được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua Quân khu Trị Thiên, nhận bằng khen và danh hiệu "Dũng sĩ quyết thắng".
Sau những năm tháng ác liệt nơi chiến trường Trị Thiên-Huế, ông Đỗ Quốc Phong được cử ra Bắc đi học, tiếp tục cống hiến trong ngành giáo dục và đào tạo. Hòa bình lập lại, ông trở về với cuộc sống đời thường, mang theo những vết thương lòng không bao giờ lành hẳn. Hành trang của ông là những tấm huân huy chương mang đầy trên ngực: Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng 2 và hạng 3); Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng 2 và hạng 3); Huân chương Kháng chiến hạng 3; Huân chương Chiến công hạng 3 và rất nhiều bằng khen, giấy khen.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người lái đò cảm tử trên sông Ba Lòng (17) | Câu chuyện thời hoa lửa