Người lính anh hùng và hành trình trọn đời giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ
Từ những năm tháng chiến đấu ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn đến các chiến dịch lớn tại Quảng Trị, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường đã thể hiện tinh thần dũng cảm, mưu trí và ý chí kiên cường của người lính Phòng không - Không quân. Sau chiến tranh, ông tiếp tục cống hiến cho cộng đồng, giữ gìn và lan tỏa truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ. Câu chuyện là minh chứng sinh động cho phẩm chất “Trung dũng - Quyết thắng” của người lính Việt Nam.
Hiện nay, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường đang sinh sống tại xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông và tôi từng là đồng đội trong Đại đội 13, Trung đoàn 280, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân, cùng đảm nhiệm nhiệm vụ lái xe kéo pháo trong những năm tháng chiến tranh. Chúng tôi quen biết nhau từ chiến trường Trường Sơn, nhưng phải gần ba thập kỷ sau ngày đất nước thống nhất mới có dịp gặp lại.
Dấu ấn người lính mang phẩm chất “Trung dũng - Quyết thắng” Mùa khô năm 1966, tôi làm nhiệm vụ tại trạm barie gần trọng điểm ngầm Cà Roòng trên tuyến Đường 20 Quyết Thắng. Một ngày, đơn vị pháo cao xạ hành quân qua khu vực này bất ngờ bị máy bay địch tập kích dữ dội. Trận ném bom gây thiệt hại nặng nề về người và phương tiện, khiến hơn mười cán bộ, chiến sĩ hy sinh hoặc bị thương.
Lực lượng thanh niên xung phong thuộc Đội N23 làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông tại khu vực ngầm đã nhanh chóng phối hợp cùng đơn vị khắc phục hậu quả. Trong khung cảnh khẩn trương ấy, tôi đặc biệt chú ý đến một chiến sĩ có vóc người cao lớn, khỏe mạnh, luôn xông pha làm mọi việc từ cứu chữa thương binh đến thu dọn hiện trường nhằm nhanh chóng giải phóng đội hình trước khi trời sáng. Vài ngày sau, trong một lần gặp lại khi anh lái xe vào kho nhận đạn dược, lương thực và thực phẩm, tôi mới biết anh là người cùng quê Thanh Hóa. Giữa chiến trường khốc liệt, gặp được đồng hương là niềm vui lớn. Chúng tôi thường động viên nhau bằng những câu nói mộc mạc, mong ngày hòa bình trở về quê hương còn có dịp gặp lại.
Đầu năm 1967, tôi được điều động về Ban Tham mưu vận chuyển của Binh trạm 14. Từ đó, chúng tôi mất liên lạc trong suốt nhiều năm.
Sau ngày đất nước thống nhất, vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam tháng 12 năm 1994, chúng tôi mới có cơ hội hội ngộ tại quê nhà. Anh Nguyễn Công Tường khi ấy là đại biểu tiêu biểu của địa phương. Cuộc gặp sau gần 30 năm xa cách mang đến nhiều cảm xúc đan xen. Chúng tôi cùng nhau ôn lại những ký ức không thể nào quên của một thời trận mạc.
Kể về những năm tháng chiến đấu, anh Tường cho biết cuối năm 1967, đơn vị được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực phà Xuân Sơn trên Đường 15 và tham gia chiến đấu tại bờ Bắc bến phà vào tháng 1 năm 1968. Sau khi bắn rơi hai máy bay địch, đơn vị trở thành mục tiêu bị tập kích dữ dội trong nhiều giờ liền. Nhiều chiến sĩ hy sinh, bị thương, một số khẩu pháo bị hư hỏng nặng.
Trong đêm hôm đó, anh liên tục thực hiện nhiều nhiệm vụ. Sau khi đưa thương binh về bệnh xá trung đoàn, anh lại tiếp tục kéo pháo vượt sông sang bờ Nam Xuân Sơn để xây dựng trận địa mới tại khu vực cửa rừng Đường 20. Quá trình thu dung thương binh và liệt sĩ nhận được sự hỗ trợ tận tình của các nữ dân quân làng Cù Lạc ở bờ Nam.
Sau khi Mỹ chấm dứt đánh phá miền Bắc, tuyến Đường 20 từ khu vực biên giới trở ra tạm thời bớt bom đạn. Đơn vị anh tiến sâu vào khu vực cửa khẩu và các trọng điểm chiến lược để làm nhiệm vụ bảo vệ. Hằng ngày, anh lái xe vận chuyển đạn dược, lương thực từ các cụm kho C tại km69, km70 của Binh trạm 14. Những chuyến xe thường xuyên phải vượt qua các trọng điểm nguy hiểm, thậm chí di chuyển ban ngày trên những cung đường mới mở còn nhiều rủi ro.
Nhớ lại giai đoạn vận chuyển 1969-1970, anh cho rằng dù bộ đội pháo phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhưng so với lực lượng công binh và thanh niên xung phong ngày đêm bám trụ giữ đường dưới mưa bom bão đạn thì những gian khổ của đơn vị mình vẫn còn nhẹ hơn.
Đầu năm 1971, khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm đánh phá tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn tại Hạ Lào, đơn vị anh được lệnh cơ động tham gia chiến dịch. Trong quá trình đưa pháo vào trận địa, đơn vị gặp phải những con dốc cao từ 300 đến 400 mét, đường trơn trượt khiến xe không thể vượt qua. Nếu không xử lý kịp thời, cả xe, pháo và con người đều có nguy cơ gặp nguy hiểm.
Trước tình thế cấp bách, anh Tường đã đề xuất sáng kiến hạ pháo xuống, nhả cáp tời sang phía bên kia buộc vào gốc cây lớn, sau đó quay đầu xe để thực hiện kéo pháo vượt dốc. Với cách làm linh hoạt và sáng tạo đó, suốt một đêm, đơn vị đã đưa thành công sáu khẩu pháo vượt qua địa hình hiểm trở, kịp thời phục vụ chiến dịch.
Sau chiến dịch, anh được bầu là Chiến sĩ Quyết thắng và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Đầu năm 1972, đơn vị tiếp tục nhận nhiệm vụ hành quân vào Quảng Trị tham gia chiến dịch Xuân - Hè. Ngày 15 tháng 5 năm 1972, tại bến Than, trong lúc máy bay địch ném bom cháy xuống trận địa, nhiều khẩu pháo đứng trước nguy cơ bị thiêu hủy. Không quản hiểm nguy, anh Nguyễn Công Tường lao vào đám cháy để dập lửa và tổ chức kéo pháo ra khỏi vùng nguy hiểm. Hành động quả cảm ấy đã cổ vũ toàn đơn vị cùng tham gia cứu trận địa, bảo toàn được hai khẩu pháo quan trọng, tiếp tục chi viện hỏa lực cho bộ binh chiến đấu.
Trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm đầy khốc liệt, đơn vị anh đã bắn rơi hai máy bay địch và tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương. Chính tại chiến trường này, anh bị thương ở bụng và chân. Dù vậy, sau khi được sơ cứu, anh vẫn tiếp tục ở lại chiến đấu cùng đồng đội.
Mỗi khi nhắc đến những năm tháng ấy, điều khiến anh day dứt nhất là sự hy sinh của người đồng đội tên Bình, quê Hà Bắc. Chàng trai trẻ mới tròn hai mươi tuổi từng tâm sự với anh rằng sau trận đánh sẽ xin phép về quê cưới vợ. Thế nhưng, ước mơ bình dị ấy mãi mãi không thể trở thành hiện thực khi anh dũng ngã xuống giữa chiến trường.
Tháng 5 năm 1973, anh Nguyễn Công Tường cùng một số cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu được cử ra miền Bắc báo cáo thành tích và kể lại những trận đánh nổi bật trên chiến trường Quảng Trị. Đi đến đâu, đoàn cũng nhận được sự đón tiếp nồng hậu của các cơ quan, đơn vị và nhân dân. Với anh, đó không chỉ là niềm tự hào cá nhân mà còn là sự ghi nhận dành cho tập thể và những đồng đội đã hy sinh vì độc lập dân tộc.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1972 và chiến dịch bảo vệ cảng Cửa Việt, anh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Ngày 31 tháng 12 năm 1973, khi mới 30 tuổi, Nguyễn Công Tường vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh tiếp tục phục vụ trong Quân đội cho đến khi nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Trở về quê hương, anh tích cực tham gia công tác Hội Cựu chiến binh, thường xuyên được các trường học mời giao lưu, nói chuyện truyền thống với học sinh và giáo viên. Trong mỗi buổi gặp gỡ, anh luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn và gần gũi, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về những hy sinh của cha anh đi trước.
Trải qua ba nhiệm kỳ giữ cương vị Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyện Yên Định, anh cùng tập thể xây dựng tổ chức hội trở thành đơn vị nhiều năm liền dẫn đầu của tỉnh Thanh Hóa. Tháng 7 năm 2025, thực hiện chủ trương tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, anh thôi đảm nhiệm công tác ở cấp huyện nhưng vẫn tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa.
Ở tuổi ngoài 80, những vết thương chiến tranh vẫn hành hạ mỗi khi thời tiết thay đổi. Thế nhưng, khi được hỏi về cuộc đời quân ngũ, người Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Công Tường vẫn nở nụ cười hiền hậu và khẳng định: “Nếu được lựa chọn lại, tôi vẫn muốn làm người lính.” Đây không chỉ là lời tâm sự chân thành mà còn là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần cống hiến và phẩm chất cao đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ suốt một đời vì Tổ quốc.



