NGƯỜI LÍNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ Ở BẢN POỌNG TỚ
Lộc Văn Núi sinh ngày 14 tháng 5 năm 1951, tại bản Poọng Tớ (Pọong 1), xã Hiền Kiệt, tỉnh Thanh Hóa – một vùng quê miền núi heo hút, nơi những dãy núi trùng điệp ôm trọn bản làng nhỏ bé, nơi cuộc sống của đồng bào còn nhiều gian khó nhưng giàu nghĩa tình. Tuổi thơ của ông gắn liền với nương rẫy, con suối đầu bản, với những bữa cơm độn sắn, độn ngô và những câu chuyện cách mạng được nghe từ các bậc cha anh trong những đêm lửa bập bùng giữa núi rừng.
NGƯỜI LÍNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ Ở BẢN POỌNG TỚ
Lộc Văn Núi sinh ngày 14 tháng 5 năm 1951, tại bản Poọng Tớ (Pọong 1), xã Hiền Kiệt, tỉnh Thanh Hóa – một vùng quê miền núi heo hút, nơi những dãy núi trùng điệp ôm trọn bản làng nhỏ bé, nơi cuộc sống của đồng bào còn nhiều gian khó nhưng giàu nghĩa tình. Tuổi thơ của ông gắn liền với nương rẫy, con suối đầu bản, với những bữa cơm độn sắn, độn ngô và những câu chuyện cách mạng được nghe từ các bậc cha anh trong những đêm lửa bập bùng giữa núi rừng.
Những năm đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, tiếng bom đạn từ miền xuôi vọng về, hòa cùng tin chiến thắng và hy sinh được truyền qua từng bản, từng làng. Trong trái tim chàng trai trẻ Lộc Văn Núi khi ấy, hình ảnh người lính Bộ đội Cụ Hồ hiện lên thật thiêng liêng: giản dị, gan dạ, vì dân, vì nước mà sẵn sàng hy sinh tất cả. Chính từ những ngày ấy, trong ông đã nhen nhóm một ước nguyện giản đơn mà lớn lao: được khoác lên mình màu áo lính, được góp một phần xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Ngày lên đường nhập ngũ, bản Poọng Tớ tiễn ông bằng những cái nắm tay thật chặt, ánh mắt bịn rịn của mẹ, lời dặn dò ít ỏi của cha và những giọt nước mắt lặng lẽ của người thân. Ông nhớ mãi buổi sáng hôm ấy, sương núi còn giăng kín lối, balô trên vai nặng trĩu không chỉ bởi hành trang mà còn bởi trách nhiệm của một người con dân tộc, một người thanh niên thời chiến. Không ai nói nhiều, nhưng trong lòng ai cũng hiểu: đi là có thể không trở về, nhưng vẫn đi, bởi Tổ quốc đang cần.
Những ngày đầu trong quân ngũ là chuỗi ngày gian khổ nhưng đầy quyết tâm. Từ một chàng trai quen việc nương rẫy, ông phải tập quen với kỷ luật thép, những buổi hành quân dài hàng chục cây số, những bữa ăn vội vàng giữa rừng sâu, cơm độn bo bo, canh rau rừng, nước suối thay nước chè. Có những đêm mưa rét, áo quần ướt sũng, nằm võng giữa rừng, muỗi vắt bủa vây, nhưng không ai than vãn. Anh em động viên nhau bằng những câu nói mộc mạc: “Cố lên, vì đất nước mà”.
Trong những năm tháng “thời hoa lửa”, Lộc Văn Núi cùng đồng đội đã trải qua không ít trận đánh ác liệt. Ông còn nhớ một lần hành quân xuyên rừng trong nhiều ngày liền, vừa đi vừa tránh máy bay trinh sát, vừa giữ bí mật tuyệt đối. Có đêm, cả đơn vị phải nằm im dưới hầm hào khi bom địch trút xuống dữ dội, đất đá rung chuyển, tưởng chừng rừng núi cũng muốn sụp đổ. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, ông nhìn thấy rõ nhất tinh thần của người lính: không sợ chết, không sợ hy sinh, chỉ sợ không hoàn thành nhiệm vụ.
Một kỷ niệm mà ông không bao giờ quên là lần người đồng đội thân thiết bị thương trong lúc chiến đấu. Dưới làn đạn dày đặc, ông và anh em đã thay nhau cõng bạn ra khỏi trận địa, dù biết rằng mỗi bước đi là đối mặt với hiểm nguy. Khi đưa được đồng đội về tuyến sau an toàn, ai nấy đều kiệt sức, nhưng trong lòng lại ấm lên bởi tình đồng chí thiêng liêng – thứ tình cảm được hun đúc bằng mồ hôi, máu và cả nước mắt.
Chiến tranh khốc liệt là vậy, nhưng trong gian khó vẫn le lói những khoảnh khắc rất đời, rất người. Đó là lúc cả đơn vị quây quần bên bếp lửa, chia nhau từng miếng lương khô, kể chuyện quê nhà để vơi đi nỗi nhớ. Có những đêm yên tiếng súng hiếm hoi, ông nằm ngước nhìn bầu trời đầy sao, nghĩ về bản Poọng Tớ, về cha mẹ, về ngày đất nước hòa bình để được trở về làm lại cuộc đời.
Rồi ngày hòa bình cũng đến. Hoàn thành nhiệm vụ, Lộc Văn Núi được trở về địa phương trong niềm vui vỡ òa xen lẫn nỗi nghẹn ngào khi nhớ về những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Trở về đời thường, ông không cho phép mình nghỉ ngơi. Với phẩm chất của người lính Bộ đội Cụ Hồ, ông luôn gương mẫu, tích cực tham gia công tác tại địa phương, được bà con tin tưởng, quý mến và tín nhiệm giao phó nhiều nhiệm vụ.
Dù ở cương vị nào, ông cũng làm việc bằng tinh thần trách nhiệm cao nhất, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Khi tuổi cao, sức yếu, ông xin nghỉ công tác, trở về chăm lo cho gia đình, dạy dỗ con cháu sống tử tế, chăm chỉ lao động, biết trân trọng hòa bình và quá khứ cha anh đã đổi bằng xương máu.
Giờ đây, khi mái tóc đã bạc, sức khỏe không còn như xưa, nhưng trong trái tim người cựu chiến binh Lộc Văn Núi, ngọn lửa của một thời hoa lửa vẫn chưa bao giờ tắt. Ông vẫn luôn dõi theo từng bước đi của quê hương, đất nước, vẫn sẵn sàng chia sẻ ký ức chiến tranh cho thế hệ trẻ, để các con, các cháu hiểu rằng: hòa bình hôm nay là thành quả của biết bao hy sinh, mất mát.
Cuộc đời ông – từ bản Poọng Tớ heo hút đến chiến trường khốc liệt rồi trở về làm người công dân gương mẫu – chính là hình ảnh giản dị mà cao đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ, sống trọn nghĩa với nước, vẹn tình với dân, để lại cho đời sau một tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và nhân cách cao quý.



