Người lính bước ra từ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Có những bài thơ được viết bằng ngôn từ. Nhưng cũng có những bài thơ được viết bằng máu, mồ hôi và những chuyến xe lao vào mưa bom bão đạn. "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật là một bài thơ như thế. Và phía sau những câu thơ "Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng..." là bóng dáng của một con người bằng xương bằng thịt – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chiến.

Có những bài thơ được viết bằng ngôn từ. Nhưng cũng có những bài thơ được viết bằng máu, mồ hôi và những chuyến xe lao vào mưa bom bão đạn. "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật là một bài thơ như thế. Và phía sau những câu thơ "Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng..." là bóng dáng của một con người bằng xương bằng thịt – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Chiến.
Tháng 9 năm 1966, chàng trai Công giáo 20 tuổi rời quê Hải Hậu (Nam Định), gửi lại phía sau người vợ trẻ đang mang thai đứa con đầu lòng để lên đường vào Trường Sơn. Ngày ông hoàn thành khóa học lái xe cũng là ngày con gái đầu lòng cất tiếng khóc chào đời. Ông không thể bế con, bởi trước mắt là những cung đường lửa đang chờ.
Chiếc xe ZIL-157 trở thành ngôi nhà, vô-lăng trở thành người bạn đồng hành. Mỗi chuyến xe là một lần đánh cược với cái chết. Trong khi đơn vị giao chỉ tiêu ba đêm một chuyến hàng, Đỗ Văn Chiến thường hoàn thành ba chuyến, có những tháng thực hiện tới 32 chuyến, vượt xa kế hoạch. Với ông, phía cuối con đường không chỉ là những kiện hàng, mà là miền Nam đang từng ngày chờ tiếp tế.
Một lần, đoàn xe vừa rời trọng điểm Seng Phan thì bom tọa độ trút xuống. Chiếc xe đi đầu trúng bom. Mảnh bom cắt gần đứt ngón tay áp út của ông. Máu chảy đỏ cả vô-lăng, bàn tay không còn đủ sức giữ lái.
Ông bảo người lái phụ giật đứt phần ngón tay còn dính lại để tiếp tục điều khiển xe. Người đồng đội quá hoảng sợ không dám làm. Không một giây chần chừ, ông tự tay giật đứt phần ngón tay còn lại rồi tiếp tục siết chặt vô-lăng, đưa cả đoàn xe vượt qua trọng điểm an toàn. Chỉ khi chiếc xe cuối cùng thoát khỏi vùng bom đạn, ông mới gục xuống vì mất quá nhiều máu.
Ở Trường Sơn, người lính lái xe không chỉ biết cầm lái. Họ còn là những người thợ sửa xe bất đắc dĩ. Sau mỗi trận bom, xe thủng lốp, gãy cầu, chết ắc quy... Dưới ánh đèn pin leo lét giữa rừng đêm, họ nằm dưới gầm xe, vừa sửa chữa vừa nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Có khi đang sửa, bom lại trút xuống, cả đoàn phải kéo xe vào rừng rồi đợi đêm xuống tiếp tục hành trình.
Suốt hơn một nghìn ngày đêm trên tuyến đường Trường Sơn, Đỗ Văn Chiến chưa từng cho phép mình dừng lại. Ông từng nói, động lực duy nhất của mình là: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt."
Ngày 22 tháng 12 năm 1969, sau một chuyến xe trở về trong gió lạnh, khuôn mặt vẫn lấm lem bụi đỏ vì chiếc xe không còn kính chắn gió, ông bất ngờ được đồng đội reo hò chúc mừng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông ngỡ ngàng đến mức còn gạt mọi người ra vì nghĩ mình quá bẩn để được ôm chúc mừng. Mãi đến khi cầm tấm bằng trên tay ngày hôm sau, ông vẫn chưa tin điều đó là sự thật.
Ít ai biết rằng, trong nhiều tháng liền, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã ngồi ngay trên buồng lái cùng ông, cùng vượt qua những trọng điểm ác liệt nhất. Từ những chuyến xe ấy, "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" ra đời. Người lính ngồi "ung dung buồng lái ta ngồi" trong bài thơ chính là hình ảnh của Đỗ Văn Chiến và những đồng đội của ông.
Chiến tranh không chỉ có những chiến công mà còn đầy nước mắt. Ông từng dùng chính chiếc chăn của mình để quấn thi thể một người đồng đội hy sinh. Sau khi bàn giao, ông giặt sạch chiếc chăn ấy rồi tiếp tục đắp mỗi đêm. Ông bảo, không hề thấy sợ, chỉ thấy như đồng đội vẫn đang ở bên mình, tiếp tục che chở trên những chặng đường đầy bom đạn.
Hòa bình lập lại, người anh hùng năm nào trở về với cuộc sống bình dị. Ông đi lễ nhà thờ, làm xe ôm, đưa đón trẻ em đến trường với tiền công "tùy tâm", tham gia giữ gìn an ninh khu phố và tiếp tục cống hiến cho cộng đồng.
Có những con người bước vào lịch sử bằng những chiến công hiển hách. Còn Đỗ Văn Chiến bước vào lòng nhiều thế hệ bằng hình ảnh người lính lái chiếc xe không kính, đối diện với bom đạn bằng sự bình thản đến phi thường. Để rồi, mỗi khi đọc lại những câu thơ của Phạm Tiến Duật, ta hiểu rằng đó không chỉ là thi ca, mà là chân dung của cả một thế hệ đã hiến dâng tuổi trẻ cho con đường mang tên độc lập.


