Người lính chưa từng dám mở hết thư nhà
Trong suốt những năm quân ngũ, tôi có một thói quen rất lạ.
Mỗi lần nhận thư nhà, tôi không bao giờ đọc hết ngay.
Tôi luôn để dành lại một đoạn cuối.
Ngày ấy thư từ hiếm lắm. Có khi cả tháng mới nhận được một lá thư từ quê gửi lên. Mỗi lần cán bộ thông tin gọi tên ai có thư là cả đơn vị đều ngoái nhìn đầy ghen tị.
Người lính xa nhà quý thư hơn bất cứ thứ gì.
Có người vừa nhận đã chạy ra góc sân đọc ngay. Có người đọc xong lại giấu dưới gối. Có cậu còn thuộc lòng từng dòng chữ mẹ viết.
Còn tôi thì khác.
Tôi thường mở thư rất chậm.
Đọc một đoạn rồi gấp lại.
Để dành tối đọc tiếp.
Vì tôi sợ đọc hết rồi sẽ lại phải chờ rất lâu mới có thư mới.
Lá thư đầu tiên mẹ gửi cho tôi viết nguệch ngoạc lắm. Bà học ít nên chữ không đẹp. Trong thư chỉ toàn những chuyện nhỏ:
“Lúa năm nay tốt.”
“Con bò nhà mình đẻ nghé.”
“Em út đi học hay khóc.”
Những điều bình thường ấy vậy mà làm tôi ngồi đọc đi đọc lại cả chục lần.
Có đêm nhớ nhà quá, tôi lôi thư ra đọc dưới ánh đèn dầu đến khuya.
Một đồng đội nhìn thấy cười:
“Ông đọc thuộc rồi còn gì.”
Tôi đáp:
“Thuộc rồi vẫn muốn đọc.”
Chiến tranh và quân ngũ khiến con người ta quý tình thân hơn rất nhiều.
Có lần đơn vị hành quân dài ngày giữa trời mưa. Ba lô ai cũng ướt sũng. Điều đầu tiên tôi kiểm tra không phải quần áo hay lương khô.
Mà là xấp thư.
May mà vẫn còn khô.
Tôi thở phào như vừa giữ được thứ quý giá nhất đời mình.
Nhưng cũng có những lá thư khiến người lính sợ hãi.
Một lần tôi nhận thư từ quê, vừa nhìn nét chữ run run của mẹ là tim đã đập mạnh.
Ngày ấy không có điện thoại, không có tin tức nhanh như bây giờ. Mỗi lá thư đều có thể mang theo chuyện vui hoặc tin dữ.
Tôi ngồi rất lâu mới dám mở.
May là chỉ báo tin bố tôi bị ốm nhẹ.
Đọc xong mà tay vẫn run.
Từ hôm ấy tôi càng hiểu thế nào là bất lực của người lính xa nhà.
Muốn về cũng không thể về ngay được.
Có đêm tôi nằm nhìn mái lán tối om mà nhớ nhà đến nghẹn cổ. Bên ngoài tiếng côn trùng rả rích, trong phòng đồng đội đã ngủ cả.
Tôi lặng lẽ lấy thư mẹ ra đọc lại.
Giấy đã mềm đi vì mở quá nhiều lần.
Mùi giấy cũ hòa với mùi dầu đèn khiến tôi nhớ căn nhà nhỏ ngoài quê da diết.
Ngày xuất ngũ trở về, tôi mang theo cả xấp thư cũ trong ba lô.
Mấy chục năm rồi, giờ giấy đã ố vàng hết.
Nhưng tôi vẫn giữ.
Vì trong đó có cả tuổi trẻ của một người lính từng đi qua chiến tranh bằng nỗi nhớ nhà âm thầm mà dai dẳng nhất.
Tôi là Nguyễn Văn Phúc, sinh năm 1952, nhập ngũ năm 1971.
Có những người mang về từ quân ngũ huân chương hay kỷ vật quý giá. Còn tôi mang về một xấp thư cũ — thứ đã giúp tôi đi qua những năm tháng xa quê mà chưa bao giờ cảm thấy mình thật sự cô độc.



