NGƯỜI LÍNH CƠ YẾU THẦM LẶNG CỦA CHÁU: ÔNG BÙI XUÂN THIỆN
Trong ngôi nhà nhỏ ấm cúng của mình, tôi có một kho tàng vô giá, đó chính là những câu chuyện về "Thời Hoa Lửa" của ông ngoại tôi. Ông là người hùng thầm lặng mà tôi vô cùng yêu mến, Ông Bùi Xuân Thiện. Ông sinh năm 1945 tại một vùng quê nghèo khó thuộc Nam Định, nay là xã Ninh Cường, tỉnh Ninh Bình.
Ông tôi là một người lính Cụ Hồ đã đi qua cả hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc. Dù thời gian trôi qua, trong căn nhà mái ngói, bộ quân phục màu xanh và những huân huy chương quý giá vẫn được ông cất giữ cẩn thận như bảo vật. Những vật dụng ấy không chỉ là kỷ niệm, mà là cả một quãng đời tuổi trẻ rực rỡ và đầy hy sinh của ông.
Ông ngoại tôi nhập ngũ năm 1965, lúc đất nước đang ở thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất. Ông từng là chiến sĩ của đơn vị F5, Quân khu 7, và sau đó phục vụ nhiều năm trong Mặt trận 479 tại biên giới Tây Nam. Ông từng giữ chức vụ quan trọng: Phó phòng Cơ yếu của Mặt trận 479.
Mỗi lần nghe đến những cái tên đơn vị ấy, tôi lại thấy rất tự hào. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên nhất là câu chuyện về vũ khí của ông. Ông kể với tôi rằng: "Tuy ông không được trực tiếp cầm súng ra chiến trường để đối đầu với địch, nhưng những người lính cơ yếu như ông chiến đấu bằng từng con chữ."
Tôi cứ nghĩ chiến tranh là phải đánh đấm, nhưng ông đã dạy tôi rằng, có những chiến công được tạo nên từ sự tĩnh lặng và trí tuệ. Công việc của ông là mã hóa và giải mã các thông tin tối mật từ Bộ Chỉ huy đến các đơn vị chiến đấu.
Ông giải thích: "Các thông tin bảo mật bằng mật mã phải được đảm bảo an toàn, chính xác và kịp thời. Một phút chậm trễ hay một lỗi sai trong việc truyền tin có thể dẫn đến thất bại của cả một chiến dịch, thậm chí mất cả một tiểu đoàn anh em đang chiến đấu ở tuyến trên."
Những người lính cơ yếu như ông, phải chiến đấu với sự căng thẳng tột độ, với những con số khô khan nhưng lại mang trong mình sinh mạng của hàng trăm, hàng ngàn đồng đội. Họ làm việc trong bí mật, không có tiếng súng, nhưng lại là xương sống của mọi chiến thắng. Họ là những chiến sĩ thầm lặng, nhưng lại giữ trong tay những bí mật quan trọng nhất của cuộc chiến.
Cuộc đời người lính cơ yếu của ông tôi không hề an toàn hơn lính bộ binh: Ông kể những lần di chuyển địa điểm trong rừng sâu, đơn vị ông phải đi qua những khu vực hiểm trở, ẩm thấp, nơi nguy hiểm không phải là đạn pháo, mà là bệnh sốt rét rừng – căn bệnh quái ác của chiến trường. Trong những lần hành quân dài ngày, các đồng đội liên tục bị sốt rét rừng hành hạ. Cơn sốt rét đến bất ngờ, khiến người lính run rẩy, mê sảng, không thể ăn uống và không thể cầm bút mã hóa được nữa. Ngay cả bản thân ông ngoại cũng bị căn bệnh này. "Lúc đó, cả đội phải chia nhau từng viên thuốc ít ỏi mang theo," ông kể, giọng ông bỗng chậm lại, trầm lắng hẳn. "Có những chiến sĩ trẻ, sốt quá cao, không thể chịu đựng được và đã không qua khỏi giữa rừng sâu lạnh lẽo."
Khi kể về những người đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại, ánh mắt ông bỗng lặng đi. Tôi biết, đó là giây phút ông đang sống lại nỗi đau mất mát, nỗi tiếc thương vô hạn. Ông tôi may mắn vượt qua cơn sốt rét rừng đó, nhưng ký ức về sự hy sinh của đồng đội thì mãi mãi in sâu. Nước mắt tôi lúc đó cứ tự nhiên trào ra, tôi thương ông và các chú, các bác đã phải chịu đựng quá nhiều.
Ông kể tiếp về những ngày hành quân từ Bắc vào miền Trung. Dù đã quen với sự hiểm nguy, nhưng những con đường đất đá, những cánh rừng bạt ngàn với súng đạn kề cận, nguy hiểm rình rập vẫn là thách thức lớn. "Nhưng những người chiến sĩ vẫn đều chân bước, không ngại hiểm nguy," ông tôi nhấn mạnh. Ông bảo, điều giữ vững bước chân họ chính là niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất, là tình yêu thương vô bờ bến với nhân dân và Tổ quốc. Họ chiến đấu không phải chỉ vì mệnh lệnh, mà vì trái tim yêu nước chân thành.
Sau ngày đất nước bình yên, ông tôi vẫn tiếp tục công tác trong quân đội. Mãi đến năm 1989, ông mới nghỉ hưu. Gần 25 năm – một phần tư thế kỷ, ông đã dành cả thanh xuân đẹp nhất của mình cho Tổ quốc.
Về hưu, ông không chọn nghỉ ngơi hoàn toàn. Ông tiếp tục về địa phương công tác và sinh hoạt, cống hiến kinh nghiệm và trí tuệ của mình cho quê hương. Ông sống gương mẫu, giản dị, luôn là tấm gương sáng cho con cháu noi theo.
Năm nay ông đã 80 tuổi, nhưng tinh thần người lính vẫn không hề suy giảm. Tôi được biết, năm 2025 này, ông cũng được đón nhận huy hiệu 60 năm tuổi Đảng – một sự ghi nhận cao quý cho cả một đời tận tụy.
Điều làm tôi xúc động nhất là thói quen của ông tôi. Cứ đến ngày 22 tháng 12 – Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông lại dậy sớm hơn thường lệ. Ông lại khoác lên mình bộ quân phục màu xanh, cẩn thận lau sạch và đeo những huân huy chương lấp lánh trước ngực để đi gặp lại những người bạn cựu chiến binh thân thiết như ông. Những lúc đó, em biết ông đã vui và xúc động rất nhiều. Họ không chỉ gặp nhau để ôn lại chuyện cũ, mà là để khẳng định: "Chúng ta đã sống sót, chúng ta đã chiến thắng, và chúng ta đã sống xứng đáng!"
Nghe câu chuyện của ông, tôi hiểu rằng, ông Bùi Xuân Thiện không chỉ là một người lính cơ yếu, ông là hiện thân của sự kiên cường và lòng yêu nước thầm lặng. Ông đã dạy tôi về trách nhiệm và sự cống hiến.
Tôi - Vũ Hà Chi, xin hứa sẽ luôn khắc ghi những câu chuyện này. Tôi sẽ cố gắng học tập thật giỏi, rèn luyện thật chăm chỉ, để xứng đáng với sự hy sinh của ông và của cả thế hệ "Thời Hoa Lửa" ấy. Đó chính là cách để tôi giữ mãi ngọn lửa tự hào trong tim mình.



