Người lính Công an Vũ trang và 12 ngày đêm rực lửa giữa lòng Hà Nội
Giữa nhịp sống hối hả của thời đại mới, có những con người vẫn lặng lẽ lưu giữ trong ký ức cả một bầu trời khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là câu chuyện của ông Bùi Hồng Thú người chiến sĩ thuộc Đại đội 4, Trung đoàn 254, đơn vị mang sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ huyết mạch của Thủ đô.
Người lính Công an Vũ trang và 12 ngày đêm rực lửa giữa lòng Hà Nội
Giữa nhịp sống hối hả của thời đại mới, có những con người vẫn lặng lẽ lưu giữ trong ký ức cả một bầu trời khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là câu chuyện của ông Bùi Hồng Thú người chiến sĩ thuộc Đại đội 4, Trung đoàn 254, đơn vị mang sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ huyết mạch của Thủ đô.
Năm 1971, khi mới bước sang tuổi đôi mươi – cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời, ông đã tạm gác lại những dự định cá nhân để lên đường nhập ngũ. Lý tưởng của ông thật giản đơn mà can trường: bảo vệ sự bình yên cho từng tấc đất quê hương. Đến năm 1972, ông chính trực tiếp tham gia vào chiến dịch mang tính bước ngoặt của lịch sử: trận "Điện Biên Phủ trên không" tại Hà Nội.
Công việc của ông lúc bấy giờ vô cùng đặc biệt và thầm lặng: canh gác tại một trại giam mật của quốc gia. Trong những giờ phút căng thẳng nhất, ông cùng đồng đội không được phép sơ tán mà phải bám trụ mục tiêu, sẵn sàng chiến đấu để đảm bảo an ninh tuyệt đối cho khu vực được giao phó.
Ký ức về đêm 18 tháng 12 năm 1972 vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí ông như vừa mới hôm qua. Đúng 8 giờ tối, bầu trời Hà Nội rực sáng bởi pháo sáng và những làn đạn xé không trung. Ông nhớ lại cảm giác kinh hoàng khi những chiếc B-52 từ hạm đội 7 ngoài biển Đông dội xuống những đợt bom rải thảm. Tiếng động cơ gầm rú át cả không gian, tiếng bom nổ chấn động đến mức "điếc đặc tai", biến đêm tối thành những khoảnh khắc rực lửa kinh hoàng.
Có những đêm trắng, ông một mình bên khẩu súng trung liên dưới hầm hào chật hẹp, vừa bảo vệ vị trí, vừa sẵn sàng bắn trả máy bay địch bay thấp. Hình ảnh những chiếc máy bay bốc cháy như những cột lửa rơi giữa bầu trời Thủ đô trong tiếng hoan hô vang dội của đồng bào là những thước phim hào hùng nhất mà ông không bao giờ quên.
Sau những đợt oanh tạc, ông được giao nhiệm vụ áp tải tù binh lên Lào Cai. Chuyến đi ấy là hành trình băng qua những con đường rách nát vì bom đạn, qua những khu vực nồng nặc mùi hôi thối của sự hủy diệt, nơi "thịt người chết đóng vào khu công phiền". Vượt qua phà Trung Hà, băng qua những cung đường hiểm trở, ông cùng đồng đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đưa tù binh đến nơi an toàn trong điều kiện thiếu thốn và mệt mỏi cùng cực.
Khi Hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1 năm 1973, hòa bình lập lại, ông tiếp tục được đơn vị cử đi đào tạo chuyên môn quân y. Với tinh thần "đa năng", ông không chỉ chăm sóc sức khỏe cho đồng đội mà còn giúp đỡ nhân dân trị bệnh cho gia súc, từ con lợn đến con trâu, con ngựa trên khắp các nẻo đường đóng quân.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người chiến sĩ Đại đội 4 năm xưa nay đã ở tuổi xế chiều, nhưng tinh thần của một người lính Công an Vũ trang vẫn luôn rực cháy. Câu chuyện của ông không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một phần xương máu của lịch sử, là minh chứng cho một thế hệ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Ở ông, ta thấy được vẻ đẹp của sự kiên cường, lòng tận tụy và một cuộc đời cống hiến thầm lặng cho nền độc lập của dân tộc.



